Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Cuộc sống nhà nông | Cơ cực nghề làm muối - CSNN 288

Cuộc sống nhà nông | Để có những hạt muối trắng mặn mòi, trên những cánh đồng muối, dưới cái nắng như thiêu như đốt, diêm dân vẫn cần mẫn với những mẻ muối. Những hạt muối chát mặn cũng không thể mặn bằng những giọt mồ hôi của diêm dân. Khi giá muối rẻ như cho, khi nhiều người dân quay lưng lại với nghề. Vẫn có nhiều người bám trụ đến cùng. Họ lẻ loi trên những cánh đồng muối và lo sợ một ngày nào đó làng mình không còn ai làm muối nữa.

Cuộc sống nhà nông | CƠ CỰC NGHỀ LÀM MUỐI:

Anh Ry tham gia làm muối từ năm 1965, thời điểm thành lập hợp tác xã muối Nghĩa Phúc, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Đến nay, vợ chồng anh chị vẫn gắn bó với nghề.

Có mặt tại cánh đồng muối vào lúc 1h30, nhưng tôi đã thấy vợ chồng anh Ry bắt đầu công việc của mình từ khá lâu rồi. Mỗi người một việc, chị dồn cát gọn lại, anh xúc cát và đổ vào máng chạc. Tất cả đều được làm khẩn trương như để chạy đua với cơn nắng buổi chiều.

Tổng diện tích làm muối ở Nghĩa Phúc là hơn 50 ha. Diện tích phân chia đến từng hộ trung bình chừng 3 đến 5 sào. Với diện tích nhỏ lẻ nên cách làm muối ở đây vẫn chủ yếu là thủ công. Sáng sớm họ rải cát ra ruộng chờ thủy triều lên, cát hút nước mặn của biển. Đến trưa, thời điểm nắng nhất trong ngày, người dân thu cát đổ vào những máng xây tại đồng rồi đổ nước ngập cát lọc lấy nước mặn cho ngày hôm sau đổ lên ruộng xi măng phơi lấy muối.

Nếu chỉ kể về đầu công việc của nghề làm muối sẽ thấy công việc khá đơn giản, nhưng trực tiếp tham gia làm cùng vợ chồng anh Ry mới thấy được những vất vả, nhọc nhằn của nghề.

Theo phân chia của nhà nước, gia đình anh Ry được chia 3 sào làm muối. Nhà anh có 4 đứa con, tất cả ăn học đều trông chờ vào ruộng muối. Có lẽ vì thế mà vợ chồng anh sớm khuya tần tảo bên ruộng muối.

Gần chục năm trở lại đây, nghề muối lao đao, giá muối giảm. Thêm vào đó, nồng độ muối ở vùng biển Nghĩa Phúc luôn thấp hơn so với các nơi khác dẫn đến sản lượng muối thu được thấp. Vợ chồng anh Ry, ngoài làm muối, họ đã phải tìm những công việc làm thêm khác.

Trên cánh đồng muối, người phụ nữ được ưu tiên làm công việc nhẹ nhàng hơn như đun cát và múc nước vào máng chạc để lọc cát.

Những tưởng công việc dành cho phụ nữ là nhẹ nhàng, nhưng có lẽ nó chỉ nhẹ hơn một chút so với công việc của anh Ry thôi. Chiếc gầu múc nước nặng chừng 20 cân liên tục được múc lên đổ vào máng. Công việc nặng, làm liên tục trong cái nắng chói chang là một thách thức không hề nhỏ.

Ngay bên ruộng muối của gia đình anh Ry là rất nhiều ruộng muối bỏ không. Cỏ mọc um tùm, sân phơi bị vỡ.

Trở lại cánh đồng muối vào lúc 5h chiều để phụ giúp vợ chồng ang Ry thu hoạch muối. Tôi thực sự háo hức muốn biết thành quả một ngày lao động vất vả của vợ chồng anh sẽ thu được bao nhiêu.

Thu hoạch 3 sào muối cũng mất đến hai tiếng. Thu hoạch xong, vợ chồng anh Ry còn phải rửa ruộng, vét sạch nước để phơi ruộng cho khô, phục vụ cho công đoạn phơi muối ngày hôm sau.

Vợ chồng chú Bùi Thế Tuyền đang vá lại những lỗ hổng trên ruộng để chuẩn bị làm muối trong nay mai. Đã ngoài bảy mươi tuổi, sức đã giảm sút nhưng vợ chồng chú vẫn phải tiếp tục với nghề truyền thống đã theo chú đến 52 năm nay.

Làm muối 52 năm, làm cực nhưng không có nghề khác nên vẫn làm. Mở khu công nghiệp mới cũng không giải quyết gì cho chúng tôi vì tuổi tác, sức khỏe làm sao mà làm được.

Ngoài những người già, trên cánh đồng muối ở Nghĩa Phúc bây giờ là những lao động nữ. Chị Thêm hiện tại đang có con nhỏ nên chị chọn đi làm muối để tranh thủ về chăm con vào hai buổi trưa, tối. Nhưng mong muốn của chị, cũng như bao thanh niên ở đây là được làm việc tại một khu công nghiệp đang xây dựng tại địa phương.

Nghề làm muối vốn được xem là nghề bán sức khỏe lấy tiền. Cơ cực muôn phần nhưng thu nhập không đánh là bao. Có lẽ vì thế mà giờ đây trên những cánh đồng muối ở Nghĩa Phúc, chỉ là người già và phụ nữ gắn bó với nghề vì không biết làm gì khác. Tình trạng ấy chúng tôi cũng bắt gặp ở rất nhiều làng muối khác. Hành trình cuộc sống nhà nông tiếp tục đến với làng làm muối truyền thống Tam Đồng – ngôi làng duy nhất vẫn còn giữ nghề làm muối ở Thái Bình. Nơi đây, hàng trăm năm qua, nhiều thế hệ diêm dân đã sống bằng nghề làm muối. Trước đây, làng có khoảng 240 hộ dân làm muối, nhưng nay chỉ còn gần 100 hộ. Cái nghề từ thời cha ông để lại không đủ để nuôi sống người dân nơi đây. Nhiều người phải mưu sinh bằng nhiều nghề phụ khác như đánh cá, bắt cua, bắt don.

Dù vẫn bám trụ với nghề, nhưng cũng như mọi người trong làng, cô cũng phải tất bật xoay sở nhiều cách để mưu sinh. Những hạt muối đều đặn được cô tích trữ hàng ngày để bán dần trong cả năm.

Ở Tam Đồng mỗi gia đình thường có một kho muối. Hầu hết người làng đều bán muối cho thương lái đến mua buôn, chỉ riêng cô Nhẹn là tự mình đi bán muối rong khắp các làng lân cận.  

Hơn 20 năm đi bán muối rong, cô Nhẹn có rất nhiều khách quen. Họ chủ yếu là những quán bán phở, cửa hàng làm bánh. Những người quen thường mua nhiều muối một lúc, có khi cả 5,7 cân muối… Cô Nhẹn dùng ống bơ để đong muối chứ không dùng cân vì muối mặn sẽ làm cho cân bị han. Mỗi một ống bơ như thế này chừng 8 lạng muối, 1 ống bơ rưỡi sẽ được 1 cân. Giá bán lẻ mỗi cân muối là 3 nghìn đồng.

Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao cô Nhẹn phải dậy từ 4,5 giờ sáng để đi bán muối. Các làng xung quanh, đều làm nghề đi biển nên họ đi làm từ rất sớm, do vậy nếu đi bán muối muộn thì sẽ không có ai ở nhà. Vậy là cứ sáng nào trời không mưa, cô Nhẹn cũng đều rong ruổi đi đến khắp các ngõ xóm để bán muối như hôm nay. Mỗi một buổi, nếu cô Nhẹn bán hết khoảng 60 cân muối thì sẽ được khoảng 180 nghìn đồng. Nhưng cũng với 60 cân muối này mà bán tại kho muối ở nhà thì sẽ chỉ được 90 nghìn đồng.

Chính vì vậy, đi bán muối rong như thế này giúp cô Nhẹn sống được với nghề muối hơn 20 năm qua… Mặc dù cô Nhẹn hiểu rằng số tiền lãi 90 nghìn kia thực chất là “lấy công làm lãi”. Đó chính là tiền công đi chợ mà hằng ngày cô vẫn phải thức dậy từ 4 giờ sáng. Ở cánh đồng này giờ đây chỉ còn mỗi cô Nhẹn và lác đác một vài gia đình khác là làm muối. Con đường chở muối về nhà chỉ 5 năm trước tấp nập là vậy mà giờ đây cỏ mọc quá đầu gối.

Người dân miền biển thường bắt đầu ngày mới từ rất sớm. Những người này, họ đều là diêm dân nhưng nay đã bỏ nghề muối… Một vài người đang nhặt tôm, họ đã phải đi đánh tôm cả đêm để kịp mang ra chợ vào buổi sáng.

Trước đây làm 8 sào muối nhưng bây giờ cỏ mọc ngang người ko làm nữa vì đầu vào không có, đầu ra không có, chỉ có quay đầu ra biển là ngon nhất. Mỗi ngày công nhật cũng được trăm bạc thế là có gạo ăn cho 5 người trong nhà

Hàng ngày, có cả trăm người đến bãi biển này đào dọn. Mỗi người có một hoàn cảnh riêng, một câu chuyện riêng nhưng họ đến bãi biển này với chung một mục đích: đó là mưu sinh.

Nhiều người vẫn ví von về sự được mất bằng câu như “hạt muối bỏ bể” hay “dã tràng se cát biển Đông”. Có lẽ công sức, sự chịu thương chịu khó mà những diêm dân ở những làng quê ấy bỏ ra quả thật chả khác gì “hạt muối bỏ bể”. Bởi giá muối vẫn quá thấp so với công lao động mà họ bỏ ra. Cũng không khó hiểu khi nhiều diêm dân dần xa rời nghề muối để kiếm kế mưu sinh khác. Nhưng cũng có những diêm dân xoay mọi người, tìm mọi cách để gia tăng giá trị cho hạt muối quê mình. Trong vòng xoáy của giá muối giảm sâu, để có thể duy trì sinh kế những diêm dân xã An Ngãi, huyện Long Điền TP Bà Rịa – Vũng Tàu đã có những cách làm rất khác…

Chú Trắng có hơn 30 năm làm nghề muối. Nhà chú có hơn 2 sào muối chuẩn bị thu hoạch, nhưng gặp mưa trái mùa nên muối tan hết. Chú đành phải đi cào muối thuê. Bởi nếu có mưa bà con làm muối phải tháo bỏ nước mưa đi, chờ nắng lên để lu đất, làm nền rồi mới dẫn nước mặn làm muối lại.  Đây cũng là tình trạng chung của nhiều hộ diêm dân xã An Ngãi. Tại xã An Ngãi có khoảng 300ha muối. Trong đó, 70% diêm dân làm muối đất truyền thống, còn lại đã chuyển sang làm muối trải bạt. Nếu làm muối bạt diêm dân sẽ nhanh có muối hơn nhờ bạt trải màu đen quá trình hấp thụ nhiệt cao hơn và hạt muối trên nền bạt ít tạp chất và ko lẫn đất nên giá bán cũng cao hơn.

Hơn 20 đám ruộng này khoảng vài ngày nữa sẽ cho thu hoạch. Nhưng do gặp mưa chú phải làm lại đợt muối mới cộng thêm làm muối đất truyền thống chú mất thêm 3 ngày để cải tạo lại ruộng và chờ them 15 ngày sau mới có muối để cào. Trong khi đó, nếu làm muối trên sân trải bạt thì chỉ cần đưa nước vào ruộng rồi đánh váng là có thể làm đợt muối tiếp theo.

Sinh ra và lớn lên với cánh đồng muối nên ông Nguyễn Văn Gia hiểu được nỗi cơ cực của nghề. Chính vì vậy, hàng ngày ông vẫn tìm mọi cách để nâng cao giá trị hạt muối cho quê hương.

Những năm gần đây giá muối bấp bênh, ông đã tự mày mò nghiên cứu muối sạch để tự mình cung ứng cho thị trường. Những hạt muối còn nguyên và trắng tinh như thế này là thành quả của quá trình hơn 2 năm mày mò nghiên cứu của ông.

Không chỉ tự mình xoay sở để nâng cao giá trị hạt muối bằng sự thay đổi cách sản xuất qua muối bạt, làm muối sạch mà chú Gia còn tự mày mò nghiên cứu chiếc máy lu nền đa năng. Bởi trong quá trình sản xuất muối, công đoạn làm mặt nền ruộng muối rất nặng nhọc, tốn kém chi phí và thời gian. Những hạt muối giờ không chỉ có vị mặn mà còn xen cả vị đắng…bởi giá cả bấp bênh, bởi đồng tiền thu về quá bèo bọt so với sự nhọc nhằn mà diêm dân bỏ ra. Thế nhưng dù có khó khăn thì những diêm dân ấy vẫn mong mỏi những ngày nắng giòn giã, để thu về những mẻ muối khô cong. Để tiếp tục nuôi hy vọng vào một ngày làng muối hưng thịnh như xưa.

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi