Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Cuộc sống nhà nông | Nghề làm nón - CSNN 290

Cuộc sống nhà nông | Từ xa xưa chiếc nón đã trở thành 1 hình ảnh thân quen của người dân Việt. Nón che nắng che mưa cho người nông dân trên đồng ruộng, trên những nẻo đường quê nón theo bà theo mẹ đi chợ. Không biết từ bao giờ hình ảnh chiếc nón lá đã in sâu đậm vào tâm thức những người con đất Việt. Cùng với tà áo dài thì chiếc nón lá đơn sơ bình dị đã trở thành biểu tượng nét đẹp văn hóa độc đáo đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Đằng sau những chiếc nón bình dị ấy là bàn tay khéo léo là sự kiên nhẫn của những người nông dân khi quyết định chọn nghề làm nón để mưu sinh...

Cuộc sống nhà nông | Nghề làm nón - CSNN 290 

Cách trung tâm HN 40 km về phía Tây, làng Chuông từ hàng trăm năm nay đã nổi tiếng với nghề làm nón lá. Đất đai ở đây khô cằn không phát triển nông nghiệp nên bà con sống bằng nghề làm nón.  Người dân ở đây nói với họ nghề này tự nhiên như hơi thở, ông bà làm, bố mẹ làm rồi con cháu cứ thuận tay làm theo...Đi khắp đất nước ta không đâu có chợ nón họp tháng 6 phiên như ở làng Chuông.

Với 4000 hộ làm nón, nghề này làm thay đổi cuộc sống của người dân nơi đây....Bà Hoa là một trong người có thâm niên làm nón tại làng Chuông. Phần lớn thời gian trong ngày của bà là dành cho việc là lá, khâu nón, căng vành...

Nón lá làng Chuông nổi tiếng dày, bền chắc và mũi đều - mềm mại. Để có được chiếc nón ưng ý bà Hoa phải trải qua nhiều công đoạn công phu...Nguyên liệu làm nón là lá của 1 loại cỏ mọc hoang hay còn gọi là lá lụi. Dân làng Chuông không trồng được lá lụi. lá lụi được vò trong cát cho hết nhựa rồi đem phơi nắng cho đến khi màu xanh chuyển sang trắng bạc.... Để có được những tấm lá phẳng và bóng, bà Hoa và những người thợ khác phải là lá rất cẩn thận bằng 1 chiếc lưỡi cày được nung nóng bằng lửa. Mỗi ngày bà Hoa có thể là được 150 => 200 lá lụi khô

Những đứa trẻ làng Chuông từ khi 6 - 7 tuổi đã biết khâu nón. Thu là cháu của bà Hoa...Tuy còn nhỏ tuổi nhưng em đã có khâu nón 1 cách thành thạo.

Khâu nón ngồi đâu cũng khâu được vì thế mỗi khi khâu nón mọi người có thể chuyện trò tâm sự...Trong những câu chuyện của họ, đôi khi lại đề cập tới những chiếc nón độc lạ - những chiếc nón có giá trị của cụ Canh - 1 nghệ nhân làm nón của làng. Tò mò về những chiếc nón của cụ Canh, tôi đã tìm đến nhà cụ...Cụ Canh đã ngoài thấp thập cổ la hi... Cụ đã chứng kiến những lúc thăng trầm của làng nón này. Với cụ niềm say mê với chiếc nón chưa bao giờ dứt. Đặc biệt là chiếc nón quai thao.

Cụ Canh đã phải rong ruổi khắp tỉnh nọ đến tỉnh kia để tìm mẫu nón. Cuối cùng ông nhờ được 1 cụ ở chợ Đồng Xuân tìm được 1 chiếc nón mẫu mà 1 ngôi chùa còn giữ được...

Trở về nhà ông tháo chiếc nón ra để nghiên cứu từng lớp lá, từng đường kim để phục chế lại chiếc nón quai thao truyền thống. Mấy mươi năm qua, chiếc nón vẫn được ông gìn giữ như 1 minh chứng cho sự trường tồn của nón làng Chuông.

Khách đến thăm gia đình không khỏi trầm trồ trước sự tài hoa của ông Canh.

Những chiếc nón làng Chuông từ thời phong kiến đã được cung tiến Hoàng hậu và công chúa trong cung cấm. Đó là mặt hàng xa xỉ lúc bấy giờ...

Không chỉ để che nắng, che mưa cho các bà các mẹ nón làng Chuông còn được du khách mua về tặng cho nhau như 1 món quà lưu niệm...

Đây là chợ nón làng Chuông...Chợ họp ngay tại sân đình, nhưng không vì thế mà cái ồn ào hối hả thường nhật không hiện rõ. Các bà các mẹ các chị có mặt ở đây từ rất sớm. Chợ họp từ 6 h sáng đến 9 h sáng...

Mỗi năm làng Chuông sản xuất ra 3  đến 4 triệu chiếc nón không chỉ cung cấp cho miền Bắc mà còn theo các đoàn khách du lịch ra nước ngoài , đến với bạn bè quốc tế....Mẫu mã nón cũng được thay đổi theo hướng đa dạng, phù hợp với thị hiếu hơn. Nhờ vậy thu nhập của nghề làm nón cũng tăng đáng kể

 Từ  chiếc nón lá này xóm làng có thể thay da đổi thịt . Nghề làm nón không dành cho những ai không kiên trì, bền bỉ cũng như nét tinh hoa của nghề làm nón chỉ dành cho những ai thật sự yêu nghề...Ở Làng Chuông vì thiếu đất cấy cày mà nghề làm nón từ nghề phụ trở thành thu nhập chính. Cũng tương tự như vậy, từ nhiều năm nay nhiều nông dân làm nón Thới Lai - tỉnh Cần Thơ cũng sống chính bằng thu nhập từ nghề làm nón...Khác biệt về địa lý, phong tục, cách làm nón nên cuộc sống của người làm nón Thới Lai cũng có nhiều khác biệt với làng Chuông. Sự khác biệt sẽ có trong phần tiếp theo của chương trình.

Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Nơi đây không những mang nét trù phú của những làng xóm nép mình dưới rặng dừa mà còn được mọi người biết đến bởi sự đa dạng phong phú về các làng nghề truyền thống được lưu truyền từ nhiều thế hệ. Một trong những làng nghề đó là Làng nghề chằm nón lá… Bà Hồ Thị Diện đã có hơn 50 năm gắn bó với nghề chằm nón lá. Giờ đây mắt mờ tay chậm nhưng những công đoạn làm nón vẫn linh hoạt như xưa.

Bà Diện cho biết ban đầu nghề chằm nón lá chỉ là nghề phụ những lúc nông nhàn. Thế nhưng những năm mất mùa chiếc nón lá lại là cơm áo cho nhiều gia đình.

Ngày nay khi nhu cầu tiêu dùng nón lá không còn như trước, thu nhập từ nghề không còn nhiều nhưng nghề cũ, những nếp sống cũ bên chiếc nón lá vẫn còn lưu giữ tại đây. Những người phụ nữ ở Thới Lai giờ đây thường tập trung lại thành tổ cùng nhau chằm nón. Sau bà Diện thì bà Hân được đánh giá là có bàn tay chằm nón điệu nghệ...

Thời con gái của bà Hân, chằm nón lá đẹp là 1 trong những tiêu chuẩn thể hiện sự đảm đang, khéo léo của người con gái. Giờ đây nó không chỉ là nghề mưu sinh mà còn là tài sản quý giá mà cha mẹ để lại và được bà giữ gìn. Nón lá Thới Lai có nhiều điểm khác với những nón lá các vùng khác...

Bà Hân cho biết  biết giá một kg lá mật cật trên thị trường hiện nay giao động từ 80.000 đồng đến 90.000 đồng, chằm được 20 cái nón thường. Khi thành phẩm, thương lái mua vào một cái nón lá khoảng 15.000 đồng. Nếu tính sơ, mỗi cái nón người thợ có thể thu lãi khoảng 8.000 đồng. Tuy nhiên, lợi nhuận từ nghề làm nón sẽ được cải thiện hơn nếu chủ động được nguồn nguyên liệu. Cả làng Chuông hay Thới Lai nông dân đều phải đi mua lá làm nón ở các vùng khác nên chỉ lấy công làm lãi. Ở xứ cọ Phú Thọ, có làng nón Sai Nga , nguyên liệu làm nón có  ngay trong vùng. Vì thế việc làm nón trở nên dễ dàng hơn, thu nhập cũng cao hơn nhiều...
Bên dòng sông Thao thấp thoáng sau những đồi cọ là làng nón Sai Nga...

Những chiếc nón chứa đựng niềm vui , nỗi buồn và biết bao hy vọng của người phụ nữ Sai Nga..

Những căn nhà trắng màu lá nón....

Những bàn tay thoăn thoắt ủi lá

Những đôi mắt chăm chú trong từng đường thêu....

Bà Trần Thị Thắng hơn 70 tuổi nhưng vẫn đi bộ hàng cây số để mua lá, tự tay chọn những quai lá đẹp nhất để làm nón.  Hàng ngày bà Thắng vẫn làm nên những chiếc nón lá đẹp vừa để nhắc nhở con cháu giữ gìn vừa là công việc để bà kiếm thêm thu nhập cho những sinh hoạt hàng ngày...

Hơn nửa cuộc đời gắn bó với nón bà Thắng là người biết rõ làm nên nguyên liệu để làm chiếc nón chuẩn nón Sông Thao... Tình yêu với nón của bà Thắng truyền sang nhiều thế hệ phụ nữ khác ở Sai Nga...

Mỗi khi rảnh họ lại tụ tập bên hiên nhà bà Thắng để cùng nhau khâu nón.

Nón lá tuy giản dị, rẻ tiền nhưng kỹ thuật làm nón cần khéo tay. Thợ làm nón cứ luôn tay luôn chân suốt cả ngày...

Chị Phương là con dâu của bà Thắng từ đường kim mũi chỉ cho đến cái tâm của người nón. Bản thân chị cũng có nhiều thay đổi trong cách làm để công việc làm nón bớt vất vả. Ví dụ như chiếc bàn là được cải tiến từ chiếc nồi cơm điện bị hỏng này. Đây là sáng tạo của chồng chị Phương. Với chiếc bà là này chị sẽ không bị khói bụi bay vào mắt như xưa...

Lấy chồng về đất nón...Đến nay chị Phương đã trở thành người làm nón giỏi nhất nhì Sai Nga.  Bởi thế có nhiều vị khách tìm đến chị để đặt nón theo yêu cầu.  Nhà chị bây giờ lúc nào cũng như 1 công xưởng làm nón với đầy đủ các khâu nhịp nhàng từ phẳng - la hồ - chẻ vanh tới cắt - ghép - khâu. Trung bình mỗi ngày 1 người có thể làm được 2-3 cái nón. Làm giỏi có thể được 4-5 nón. Giá mỗi nón đẹp trung bình khoảng 40 nghìn đồng. Mỗi ngày 1 người làm nón có thể kiếm được 100 nghìn đồng. Tính cả tháng thì đối với người nông dân nghề phụ cũng có thu nhập khá và ổn định.

Chợ phiên ở Sai Nga 4 giờ sáng đã tấp nập người qua lại...

Trong vài tiếng buổi sáng người dân đến chợ để bán nón - mua nguyên liệu để rồi trở về nhà chuẩn bị cho 1 ngày làm việc mới. Bà Thắng rời chợ nón với 1 quai lá cọ trên tay, những người đã qua tuổi lao động như bà, làm nón không đơn thuần là để có đồng ra đồng vào mà còn là để biết rằng mỗi ngày trôi qua mình vẫn được sống được làm công việc  truyền thống của quê hương mình...

Nón lá đã đi vào 7 loại hình nghệ thuật dân tộc 1 cách hết sức tự nhiên, sinh động như chính vẻ đẹp của nó, vẻ đẹp giản dị mà duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam...

Cả hình bóng quê hương như gói trọn trong chiếc nón lá mong manh.

Chiếc nón vẫn tận tụy - thủy chung với người dân lao động 1 nắng 2 sương trên con đường mưu sinh ...Và vì thế sức sống của những làng nón trên khắp dải đất hình chữ S vẫn cứ bền bỉ cũng thời gian....

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi