Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Cuộc sống nhà nông | Những người giữ hồn gốm Nam Bộ - CSNN 303

Cuộc sống nhà nông | Người thợ gốm ru đất gom lửa để đất lớn lên với muôn ngàn hình hài, màu sắc... Hàng trăm năm nay nghề gốm trải qua biết bao thăng trầm nhưng vẫn được gìn giữ và truyền lại như 1 thứ gia bảo qua nhiều thế hệ. Ở mỗi vùng miền, gốm lại có những đặc trưng, những sắc thái khác nhau mang đầy đủ hơi thở cuộc sống - con người địa phương.

Cuộc sống nhà nông | Xuất hiện ở Việt Nam từ lâu đời, các sản phẩm gốm gắn liền với sự đổi thay của mỗi thời kỳ lịch sử, là chứng nhân cho sự phát triển văn hóa của người Việt. Từ những chiếc lu mộc mạc đến những chiếc bình tinh xảo, cầu kỳ hay những bức phù điêu đậm tính tâm linh, gốm gắn bó mật thiết cuộc sống và sinh hoạt của con người.

Các làng gốm có mặt dọc suốt chiều dài đất nước....Trong đó khu vực Nam Bộ được biết đến với những sản phẩm gốm mộc mạc, tinh tế ...Nổi bật nhất là gốm Bình Dương với những nét độc đáo đậm chất Nam Bộ suốt 1 thế kỷ nay..

Là thị trấn thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, từ giữa thế kỷ 19, dân làng Lái Thiêu sống bằng nghề gốm truyền thống. Tuy không có lịch sử lâu đời như gốm Bát Tràng hay Chu Đậu nhưng gốm Lái Thiêu đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của người dân Nam Bộ. Từ người bình dân hay nhà giàu đều có thể sử dụng. Sản phẩm gắn liền với cuộc sống người dân như: lu ché, chum, lọ, chén, bát, bình trà... Những vật dụng này làm ra được vận chuyển lên Sài Gòn và khu vực Chợ Lớn để tiêu thụ. Gốm Lái Thiêu được biết đến là dòng gốm bình dân nhưng chính vẻ đẹp mộc mạc, chân chất giúp cho gốm Lái Thiêu tự tạo nên bản sắc cho riêng mình. Ông Lê Trung Hải đang cân đo nguyên liệu chuẩn bị cho mẻ men mới. Đá đen Hà Tiên, đá trắng Long Xuyên , tro trấu, tro bếp, oxit kẽm, oxit đồng là những vật liệu không thể thiếu để làm nên nước men Lái Thiêu hàng trăm năm nay.

Men gốm Lái Thiêu có thể nhìn xuyên men mà thấy được cốt đất. Men cũng có độ chảy ra gốm Lái Thiêu do gốm được nung dưới ngọn lửa đảo. Để khống chế độ chảy của men ông Hải thường dùng tro trấu.... Ông Hải học làm gốm từ năm 10 tuổi đến năm 40 tuổi ông lập lò và phát triển đến ngày hôm nay. Bao nhiêu năm làm gốm là bấy nhiêu năm ông Hải đeo đuổi con đường chinh phục màu men truyền thống của ông cha để lại. Từ 5-6 màu men ban đầu, ông Hải có thể pha chế lên đến gần 100 màu men khác nhau. Mỗi mẻ ra lò lại ẩn chứa những sự thú vị về màu men....

Ông Lê Trung Hải - Làng gốm  Lái Thiêu, Bình Dương: "Còn là học hoài", chính vì thế, dù đã thuộc vào lớp nghệ nhân của làng gốm Lái Thiêu nhưng mỗi một mẻ nung là 1 lần học nghề của ông Hải.  Vẻ đẹp của gốm Lái Thiêu được quyết định bởi 4 yếu tố : nhất dáng - nhì nung - tam men - tứ trí. Mỗi sản phẩm ra lò là sự kết tinh của đất - nước - lửa và đôi tay người thợ gốm. Đất là cha nặn ra hình hải. Lửa là mẹ sinh ra thần thái, do đó là dù là chủ lò nhưng ông Hải vẫn trực tiếp đứng ra canh lửa. Chỉ cần 1 sơ suất nhỏ cũng hỏng cả mẻ gốm".

Những sản phẩm này nhìn sơ qua nhiều người nghĩ rằng là sản phẩm lỗi nhưng đây là dòng men rạn mà ông Hải đã thử nghiệm. 60 năm theo nghề, thở hơi thở của làng gốm , mùi đất - màu đất đã trở thành 1 phần quan trọng trong cuộc sống của ông Hải. Chiếc lò này là tâm huyết, là kết quả phấn đấu của cả 1 đời người thợ làm gốm. rồi cũng từ đây, lò gốm đã là chốn mưu sinh của biết bao người Lái Thiêu. Bà Nguyễn Thị Trưng đã làm gốm ở lò của ông Hải được 26 năm, khoảng thời gian bằng với tuổi đứa con gái đầu lòng của bà. Chị có nhiệm vụ là chấm men cho sản phẩm. Công việc tưởng đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được.

Cách đây 10 năm tỉnh Bình Dương quy hoạch lại nghề làm gốm, nhiều lò gốm tắt lửa. Nhưng ông Hải vẫn 1 lòng 1 dạ thủy chung với đất với lửa với lò nung. Ông bảo rằng bỏ nghề ông nhớ nghề không chịu nổi. 

Đất sinh nghề, nghề nuôi người và người lại làm giàu cho đất...Chính đất và người đã làm nên thương hiệu gốm Lái Thiêu mà cả trăm năm nay những chiếc ghe vẫn ghé vào mang gốm đi muôn phương. Guồng quay ồn ào của cuộc sống hiện đại nhưng vẫn còn đó tiếng đất gọi đôi bàn tay, vẫn còn đó tấm lưng ướt đẫm mồ hôi của người thợ gốm, vẫn còn đó gốm Lái Thiêu - niềm tự hào của đất và người Bình Dương.

Ở Lái Thiêu có 1 lò gốm chuyên sản xuất  lô hũ khạp nổi tiếng suốt hàng trăm năm nay. Đó là lò lu Đại Hưng đến nay đã được công nhận là di tích. ông Tám Giang đã gắn bó với nghề gốm gần 30 năm là chủ thứ 5 của lò gốm này . Với ông kỹ thuật làm gốm của cha ông để lại là bí quyết gia truyền cần phải gìn giữ. Trong khi nhiều người chuyển sang làm gốm mỹ nghệ thì ông vẫn đeo đuổi nghề làm lu khạp. Với ông đó là cách giữ lại cho mình nét truyền thống của nghề sau bao thay đổi của thời gian.

Vẫn dùng cách làm truyền thống nên ông Tám Giang vẫn giữ nguyên cách xử lý đất của những người làm gốm Lái Thiêu. Ngày xưa ông bà lấy nhiều loại đất trắng, đất đen , đất thịt trộn lại rồi ngâm. Đến nay nguồn đất này không còn dồi dào, người ta phải pha đất thịt với đất cát để làm gốm. Không có được loại đất lý tưởng, ông Tám Giang nghĩ ra cách cán đất để đất có được độ mịn cần thiết.

Lu gốm Đại Hưng mang màu vàng sậm đặc trưng, có được điều này là nhờ vào nước men được làm từ vôi và tro trấu. Phủ men tưởng chừng là công việc đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được. Chẳng vậy mà lò lu có hàng chục công nhân nhưng phần việc này vẫn do chính tay ông Tám Giang đảm nhận để - đảm bảo tính thấm mỹ và độ bền cho chiếc lu.

Mỗi mẻ nung gốm sẽ mất 3 ngày 3 đêm, đây cũng là khoảng thời gian ông Giang phải túc trực hoàn toàn tại lò. Đôi mắt phải quan sát tinh tường để nhận biết độ chín của gốm và căn chỉnh lửa phù hợp. Gần 30 năm trong nghề chỉ cần gốm là ông Giang có thể đoán biết được nhiệt độ trong lò mà không cần thiết bị đo nhiệt.

Làm lu không chỉ đơn thuần là làm 1 món hàng mà đã trở thành 1 phần không thể thiếu trong cuộc sống của ông Giang.  Ở Lò gốm Đại Hưng có gần 100 công nhân làm việc....Có nhiều người đã dành cả cuộc đời gắn bó với lò gốm này....

3 giờ sáng khi mọi người còn say giấc ông Hồ Văn Lớn đã bắt đầu ngày làm việc của mình....Tuổi cao sức yếu, thính lực đã suy giảm nhiều nhưng có lẽ âm thanh mà ông nghe rõ nhất chính là tiếng đất gọi đôi bàn tay. Ông làm quen với đất từ khi còn là đứa trẻ. Thoáng chốc đã là cả 1 đời người.

Hơn 70 tuổi, người khác đã ở nhà an nhàn tuổi già nhưng ông Lớn vẫn ngày ngày bầu bạn với đất. Ông vẫn thao tác 1 cách nhanh nhẹn những động tác làm gốm.  Với mỗi chiếc khạp này ông Lớn được chủ trả công 5000 đồng, thu nhập không cao nhưng cũng đủ nuôi sống gia đình ông...Ông Lớn thường tranh thủ mọi thời gian trong ngày để làm, kể cả buổi trưa... Nhà gần lò gốm nhưng đến trưa sẽ có đứa cháu mang cơm đến cho ông ăn. Những bữa cơm tại lò như thế này thấm mùi của đất, của khói, của mồ hôi...

Làm cùng ông Lớn còn có nhiều người cao tuổi khác. Bà Huỳnh Thị Tý năm nay 64 tuổi nhưng bà có 50 năm gắn bó với nghề. Có thể vài năm nữa, đôi tay không còn uyển chuyển nữa bà sẽ nghỉ làm gốm. Lúc đó bà sẽ nhớ lắm những gì thuộc về lò gốm này...

Cuộc sống thay đổi theo thời gian, người làm gốm Lái Thiêu cũng không nằm ngoài sự vận động đó. Đổi thay là để phát triển, để tồn tại, để vượt qua những thách thức và tiếp tục gắn bó với nghề. Bên cạnh việc nâng niu, gìn giữ những nét đẹp truyền thống những đôi tay tài hoa còn không ngừng mày mò sáng tạo ra những mẫu mã gốm mới để làm phong phú thêm vẻ đẹp cho gốm lái Thiêu.  Người mang lại sức sống mới cho gốm Lái Thiêu là một người vốn không phải gốc Bình Dương nhưng đã sớm mắc duyên nợ với dòng gốm mang đậm chất Nam Bộ này.

Chiếc máy phun men gốm này do ông Bạch Văn Nhân tự mày mò và sáng chế ra để phủ men cho những sản phẩm gốm đặc biệt của mình. Không gian sống của ông Nhân được tận dụng tối đa cho gốm, từ căn phòng sáng tác, phòng đổ khuôn, sân vườn và các thể loại máy móc, dùng nghiền đá, đánh đất, đến không gian lò nung… tạo nên một xưởng gốm nhỏ với đầy đủ thiết bị để cho ra đời những tác phẩm gốm mỹ thuật độc đáo.

Ông Nhân  tự tay thực hiện các tác phẩm của mình, từ khâu trộn đất, rót khuôn, phác thảo nét vẽ bằng chì từ ý tưởng lên giấy, sau đó vào màu thành tác phẩm hội họa hoàn chỉnh, đưa lên cốt thai gốm, rồi chuyển vào lò nung. Khi làm cốt thai gốm, ông là người thợ gốm thực thụ. Nhưng khi thổi hồn vào cốt gốm ấy, ông trở thành một người nghệ sĩ, cần mẫn, cặm cụi, tỉ mỉ điểm từng nét cọ cho gốm, khi là đường nét của lối vẽ sơn dầu, đến màu nước, khi là những mảng men mà ông gọi là nét thêu trên gốm…

Gốm thêu là những chiếc bình có những chi tiết được in nổi, nhìn xa như là được thêu trên da gốm. Với loại gốm này quan trọng nhất là phải tạo được chất men để làm chi tiết nổi. Theo đó men phải thật bám dính khi nung và khi gặp nước. Thời gian ông Nhân gặp không ít khó khăn khi tìm ra được đúng loại men vẽ được lên gốm .

Từ bản phác thảo được vẽ bằng màu nước, để đạt độ hoàn chỉnh thật dễ dàng, chỉ cần vài nét cọ, nhưng để vẽ tác phẩm ấy lên cốt gốm là cả quá trình phức tạp từ việc phối màu, đến lối vẽ trên tiết diện không phẳng như giấy cũng là một thử thách. Cái khó của sự kết hợp giữa hội họa và gốm chính là ở công đoạn này, cũng là  thể hiện trình độ cao của người thợ.

Thường xuyên tham khảo sách báo, tạp chí để cập nhật các xu hướng trang trí mới là cách mà ông Nhân tìm thêm ý tưởng để trang trí bình gốm của mình. Nét trang trí của ông Nhân trên gốm mềm mại, tinh tế nhưng cũng rất gần gũi với đời sống con người, đặc biệt là không gian của những vùng quê. Hoa lá, cây cỏ, chim chóc, thậm chí những loại côn trùng cũng được ông đưa lên gốm bằng những nét bút tài hoa. Với ông thứ hoàn hảo nhất để trang trí lên gốm chính là hơi thở của cuộc sống...

Điểm độc đáo ở gốm Nhân chính là sự kết hợp của vẻ đẹp tạo hình trên cốt gốm, phối hợp với những nét cọ tung hứng, bay bổng cùng những ý tưởng để cho ra đời một dòng gốm mỹ thuật mang phong cách mới lạ, hiện đại, trên bản đồ gốm Việt hôm nay.

Lối kết hợp hài hòa giữa lối tạo hình bằng phương pháp rót khuôn truyền thống với ứng dụng các đường nét hội họa, thêu thùa hiện đại, người thợ gốm đã cho ra đời một dòng gốm mỹ thuật độc đáo trên đất gốm Lái Thiêu hôm nay. Học tập tinh thần đó, những người thợ gốm ở Biên Hòa cũng đã sáng tạo ra một cách thể hiện mới trên gốm đó là làm ra những bức tranh gốm. Tranh ngôn ngữ của tâm hồn thông qua đường nét và màu sắc. Gốm và tranh tưởng chừng như xa lạ nhưng lại hòa quện vào nhau để tạo nên 1 tác phẩm nghệ thuật vô cùng độc đáo. 

Gốm Biên Hòa được biết đến là sản phẩm giao thoa giữa ba dòng gốm của người Việt, người Hoa và người Chăm.  Gốm Biên Hòa vừa có giá trị nghệ thuật lại vừa có giá trị sử dụng cao. Những sản phẩm gốm mỹ thuật trang trí độc đáo, phong phú và đa dạng với đủ mọi chủng loại như các loại đôn voi, đôn tròn, các loại chậu hoa, tượng, thú... được trang trí hiện đại, tinh tế, sử dụng men nhẹ lửa, màu men thanh thoát.

Cách đây hơn 20 năm, các nghệ nhân gốm Biên Hòa đã rất thành công trong việc vẽ, khắc tranh dân gian trên gốm, hình thành một dòng tranh gốm rất phát triển cho đến ngày nay. Anh Hoàng Ngọc Hiến một thợ gốm trẻ ở Đồng Nai - người  đã khoác chiếc áo đương đại lên gốm truyền thống. Anh Hiến mang vào gốm những chủ đề dân gian, lao động và cách nhìn về cuộc sống. 1 bức tranh gốm 80 x 40 cm, anh Hiến sẽ vẽ trên 8 mảnh gốm nhỏ rồi ghép chúng lại với nhau.

Anh Hiến lớn lên ở đất gốm Biên Hòa. Tuổi thơ gắn với những đôi tay nhào đất, hơi ấm tỏa ra từ những lò nung...anh Hiến đã quyết định khởi nghiệp với gốm. Gốm Biên Hòa là 1 trong 3 dòng gốm lớn ở Nam Bộ. Ngoài những sản phấm gốm gia dụng, những thợ gốm Biên Hòa còn vẽ tranh dân gian trên gốm. Đến thế hệ của Hiến, chủ đề mở rộng ra những chi tiết hoa văn trìu tượng mang đậm phong cách cá nhân.

Tranh gốm của Hiến là sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Hiện đại trong việc lựa chọn chủ đề - cách thể hiện và truyền thống trong kỹ thuật làm gốm. Đặc trưng của gốm Biên Hòa là kỹ thuật chạm khắc trước khi chấm men. Độ sâu của nét khắc phải vừa đủ để làm rãnh ngăn cách cho 2 màu men chảy vào nhau sau khi nung.

Hoàng Ngọc Phú là em họ và cũng là cánh tay phải của anh Hiến. Quê ở Nghệ An, Phú vào Đồng Nai học làm gốm. Đến nay Phú có thể làm thành thạo công đoạn làm đất, trà nhám sản phẩm, chấm men. Xưởng gốm nhỏ đang là nơi nuôi dưỡng nghề gốm cho cả 2 chàng trai trẻ...Đó cũng là nơi lưu lại 1 dòng sản phẩm độc đáo của gốm Biên Hòa....

Gốm – muôn đời là sự giao hòa giữa người và đất. Câu chuyện từ những chiếc lu, chiếc khạp cho đến những chiếc bình, bức phù điêu hay những bức tranh....Dòng chảy của gốm mang hơi thở của cuộc sống, sự vận động không ngừng của thời cuộc. Những người thợ tài hoa khoác lên gốm  diện mạo mới, hình thù mới nhưng vẫn không quên giữ lại những bản sắc quê hương nơi gốm sinh ra. Bù đáp lại ân tình đó, gốm cũng mang lại cơm ăn - áo mặc - mang lại sự hứng khởi để mỗi ngày người thợ lại thêm 1 động lực sáng tạo để không chỉ là mưu sinh cùng gốm mà còn là nuôi dưỡng đam mê với gốm! 

 

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi