Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Cuộc sống nhà nông | Sống ở những làng gốm xứ Kinh Bắc - CSNN 304

Cuộc sống nhà nông | Đất Kinh Bắc không chỉ được biết đến là nơi có nhiều lễ hội dân gian nhất cả nước, là quê hương của những làn điệu dân ca Quan Họ mà còn là nơi có nhiều làng nghề truyền thống, trong đó phải kể đến nghề làm gốm. Làng gốm Thổ Hà của vùng Kinh Bắc xưa là một trong những chiếc nôi của nghề gốm sứ. Hay gốm cổ Luy Lâu - một trong những dòng gốm xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam… Và Phù Lãng - một trong ba trung tâm gốm sứ cổ xưa nhất của người Việt bên cạnh gốm Thổ Hà và Bát Tràng… Những làng gốm trên đều từng có thời kỳ vàng son ở xứ Kinh Bắc nhưng nay Thổ Hà coi như đã tắt lửa, Luy Lâu đã từng đối mặt với sự lụi tàn nay đang dần được khôi phục. Riêng Phù Lãng sau những giai đoạn phát triển huy hoàng đã có lúc tưởng như tàn lụi, rồi lại hồi sinh rực rỡ.

Cuộc sống nhà nông | Nhắc đến gốm xứ Kinh Bắc, đầu tiên có lẽ phải kể đến làng Thổ Hà nay thuộc tỉnh Bắc Giang. Nơi đây từng là một trong những chiếc nôi của nghề gốm sứ, một thương cảng gốm tấp nập của vùng Kinh Bắc. Nghề gốm ở đây có từ thế kỉ 12, từng là nghề sinh sống chính của người dân vùng này bên cạnh nghề làm rượu và bánh đa. Nhưng nay chỉ còn duy nhất một gia đình làm nghề gốm cổ ở Thổ Hà và cũng chỉ hoạt động cầm chừng. Dù vậy, nhưng các sản phẩm làm ra kế thừa tinh hoa cổ truyền nên vô cùng đẹp và tinh tế. 

Người Thổ Hà sinh ra và lớn lên bên dòng sông Cầu. Xưa kia, đây là nơi buôn bán và làm gốm. Những ngày tháng 7, tháng 8 xưa, trên bến dưới thuyền tấp nập kẻ mua người bán. Gốm Thổ Hà từ bến sông Cầu tỏa đi khắp nơi trên đất Bắc. Tuy nhiên, thời điểm này đến làng gốm Thổ Hà, du khách không còn nhìn thấy nhiều lò gốm như trước kia… Nhưng vẫn còn những hình ảnh minh chứng cho một thời hưng thịnh của gốm Thổ Hà. Đó là những bức tường làm bằng những mảnh gốm… Là những con ngõ quanh co lát gạt kiểu chân rết tủa ra hai bên… Là đình làng với những họa tiết mang dấu tích của thời hậu Lê. Nghề gốm đã làm nên một Thổ Hà nức danh một thời.

Trước kia, gốm Thổ Hà đã đi sâu vào từng ngóc ngách sinh hoạt của người dân Bắc bộ, từ chiếc chum đựng thóc, làm mắm cho đến những chiếc tiểu sành, hay những vật dụng cần thiết trong cuộc sống hằng ngày. Gốm Thổ Hà được làm từ đất sét, lấy từ ven con sông Cầu. Đất đem về được nhào nặn cho thật mịn, thật nhuyễn rồi đưa lên bàn xoay chuốt… Gốm THổ Hà đặc biệt ở chỗ là không phủ men mà chủ yếu là men mộc tự nhiên chảy ra từ nhựa đất trong quá trình nung tạo nên màu nâu, màu da lươn bóng loáng. Và dù chôn xuống đất hay ngâm trong nước hàng trăm năm nó vẫn giữ được màu như lúc mới ra lò. Đây cũng chính là lý do khiến những sản phẩm gốm Thổ Hà ngày càng trở nên nổi tiếng.

Ông Trịnh Đắc Tân: "Gốm Thổ Hà nung ở nhiệt độ cao thì tạo thành sành, gõ coong coong như thép, mảnh gốm sắc như dao."

 

Gia đình ông Tân có 9 đời theo nghề gốm, từ nhỏ, ông đã được làm quen với gốm qua những công việc như nhào đất, nặn gốm phụ mọi người. Sau những ngày tháng đi bộ đội và làm công nhân hóa chất, ông thiết tha khôi phục nghề gốm lúc đó chỉ còn là ký ức. Lò gốm này được ông xây dựng từ năm 2006, mang dáng dấp của lò gốm xưa. Còn đây là lớp đất sét mà ông cất công đem về để khởi công lấy ngày, nuôi ý định khôi phục lại làng gốm. Lò gốm của ông Tân khi ấy là lò gốm duy nhất của làng Thổ Hà còn hoạt động cầm chừng.

Nhưng thời vàng son của gốm THổ Hà giờ chỉ còn trong ký ức. Những sản phẩm gốm cỡ lớn với dung tích chừng 5-6 trăm lít hay những chiếc chum, vại từ những năm 60 chỉ còn vài chiếc, nằm rải rác ở một số gia đình hay trong đình làng. Tiếc cho một thời vàng son của gốm, những người có tâm huyết với nghề gốm ở mảnh đất này vẫn không ngừng trăn trở, có người cất công khôi phục nghề gốm nhưng vì kinh tế thị trường, họ cũng phải ngậm ngùi gác lại, mưu sinh bằng nghề khác. Lâu dần, những người dân trong làng Thổ Hà dường như cũng đã quên đi mùi của đất sét…Riêng nhà ông Tân, dù gốm không còn là nghề mưu sinh chính nhưng những người con, đứa cháu của ông Tân vẫn gắn bó cùng bàn xoay gốm, ấp ủ hi vọng một ngày nào đó, mùi đất sét quen thuộc lại trở về với người dân nơi đây….Còn ông Tân, vẫn luôn sẵn lòng trò chuyện về gốm Thổ Hà về một thời hưng thịnh của dòng gốm này với những du khách đến tham quan…

Dù từng có thời kỳ phát triển hưng thịnh nhưng nay gốm thổ Hà cũng chỉ còn vang bóng. Cũng giống như gốm Thổ Hà, gốm cổ Luy Lâu đã có lúc đối mặt với sự lụi tàn và nguy cơ trở thành phế tích. Thế nhưng, vào năm 1993, dòng gốm này đã được vực dậy và phát triển trở lại bởi niềm đam mê mãnh liệt và sự tài hoa của một người con vùng Kinh Bắc. Giữ nguyên phương pháp nặn đất bằng tay trần, không dùng sự hỗ trợ từ lực của bàn xoay, những nghệ nhân, người thợ nơi đây đang giữ nguyên vẹn hơi thở dòng gốm Luy Lâu của các bậc tiền nhân xưa kia.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Vông tại Hà Mãn, Thuận Thành, Bắc Ninh là người có công khôi phục lại dòng gốm cổ Luy Lâu. Tình yêu gốm nhen nhóm khi ông còn là một cậu bé, từng chứng kiến ông nội làm những con vật bằng đất nung rồi mang ra chợ quê bán. Những năm đi học, nghệ nhân Vông được theo chân các nhà khảo cổ đi khai quật tìm kiếm di chỉ gốm Phùng Nguyên, Đông Sơn... Sắc màu của những mảnh gốm và những đồ cổ được khai quật đã tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ trong lòng chàng thanh niên lúc bấy giờ. Ước mơ về những lò gốm Luy Lâu sáng lửa trên đất Dâu đã hình thành… Và ý tưởng đó chính là động lực để ông quyết tâm khôi phục gốm cổ Luy Lâu, biến nó thành điều hiện thực.

Nghệ nhân Vông: "Đây là cách làm gốm của Luy Lâu cổ. Tức là đất được nặn thành con trạch rồi nặn trực tiếp bằng tay, không phải nặn trên bàn xoay. Cái tính nghệ thuật nó cao là cái tính ước lệ , muộn tạo một dáng hinh hình tròn, không nhất thiết nó phải tròn như compa quay, nghệ thuật cao là làm ra nó bằng cảm nhận, chỉ cần ước lệ thôi. Nói bằng tiếng nói của cái hình. Vì gốm Luy Lâu nó thuộc dòng văn hóa cổ".

 

Luy Lâu là vùng đất cổ nằm bên bờ sông Đuống thuộc huyện Thuận thành, tỉnh Bắc Ninh. Xưa kia, đây là cửa ngõ giao lưu buôn bán phía Bắc nước ta. Vùng cửa biển này sở hữu loại đất sét đặc biệt. Đó là loại đất nhiều Sắt. Chính bản thân chất đất này đã hội tụ đầy đủ nguyên tố để làm nên chất xương hoàn hảo của dòng gốm cổ. Để tìm lại đúng sắc màu và chế tác xương men của dòng gốm quê đã tắt lửa nguội lò cách đây cả nghìn năm chẳng phải là điều đơn giản. Nghệ nhân Vông lang thang trên những cánh đồng, gò bãi hay ghé lại những ngôi đền, chùa trong vùng để tìm những mảnh gốm Luy Lâu còn sót lại.

Nghệ nhân Vông: "Đây chính là sản phẩm của Luy lâu có lịch sử cũng trên 2000 năm vào khoảng 2300 năm đến 2500 năm.  Bởi vì cái này thủ công thực sự bằng tay không 1 tí nào trên bàn quay vuốt truốt cả và trên hình những cái đường nét hoa văn của thời bấy giờ.  Nghệ nhân thời đấy người ta đã lấy lá cây dương sỉ , chính cái là cây dương sỉ làm làm thành 5 -7 cái lá trên cái bình này xong là vẫn còn ướt ướt thì họ dán vào và cứ thế dán dán rất nhiều bây giờ chúng ta đã được thưởng thức sản phẩm có hoa văn như này."

 

Gốm cổ Luy Lâu không chỉ được tạo nên bởi loại đất đặc biệt mà chất men của gốm này cũng rất đặc trưng. Đó là men tự nhiên được chế từ bùn đất của sông Dâu, tro than đốt từ thân cây dâu mọc trên đất phù sa, thêm chút sỏi đá của vùng rừng, vỏ sò, vỏ điệp của biển mới biến thành. Chính những báu vật mà tiền nhân để lại, cùng niềm say mê và miệt mài sáng tạo, Nguyễn Đăng Vông đã hồi sinh được sắc màu men gốm cổ truyền của vùng Luy Lâu.

 

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Vông: "Một số các loại men khác nhau thì người ta lấy tro của nhiều loài , Ví dụ men trấu người ta lấy men trấu thì người ta đốt lên lấy cái cho đấy thì nó ra một mầu khác , lấy than miến nó sẽ ra mầu khác thaab dâu lại ra mầu khác , khác nhau ở chất liệu . Có lưu lâu có khoảng 3-4 loại men , 1 là men cho vào thân dâu , 2 là bùn đất của sông dâu cũng ra một loại men , 3 là vỏ sò lẫn với bùn đất cũng phải đốt lên tang nhỏ ra , men đỏ , nâu đỏ hoặc là ra mầu xanh ô niu . xanh có 2-3 loại xanh do phối trộn tỉ lệ khác nhau".

 

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Vông không sản xuất gốm gia dụng mà tập trung vào các mặt hàng gốm mỹ nghệ. Đó có thể là biểu trưng cho những giá trị truyền thống văn hóa của vùng Kinh Bắc hay hình ảnh cuộc sống hồn hậu mà sinh động của người dân quê....Để tạo ra được những sản phẩm gốm Luy Lâu truyền thống, chịu nhiệt trên 1000 độ C, hay những  sản phẩm có kích cỡ và trọng lượng lớn, nghệ nhân Vông đã phải vận dụng cả những hiểu biết về khoa học, nguyên lý hóa học để tạo độ bền chắc cho sản phẩm.

Nghệ nhân Vông: "Không phải 1 ngày là đắp xong được, riêng cái đầu phượng này, tôi làm hàng tháng trời mới đc, ở dưới này nó phải đủ chịu nhiệt ở trên vì cái đầu rồng này nặng khoảng hơn 1 tấn, tấn 3, tấn 4 độ dày là khoảng 15, 16 cm. Đất này là hoàn toàn đất ở vùng Luy Lâu chứ nếu đất ở vùng khác là không thể làm đc… Chất là chúng tôi đấu vào với đất sét, độ dẻo và khi cho vào, khi trộn đất thì trộn bằng phương thức thủ công cho nên cái độ kết dính độ dẻo rất tốt, tính độ cả độ kết dính bó là cả 1 mảng khối, cả 1 sp nặng vài tấn hoặc trên 2 tấn là chuyện bình thường".

Chiếc đầu rồng thời Lý này được nghệ nhân Nguyễn Vông thể hiện rất mềm mại và có hồn. Sản phẩm chỉ mất vài tháng trời nặn gọt nhưng trước đó là cả chục năm nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm của người nghệ nhân này.

Nghệ nhân Vông: "Dùng bằng mắt chứ ta không  phải dùng bằng thước ta đã phải biết được từ đầu mắt tới đầu mi này là khoảng bao nhiêu, ta dùng mắt ta đo cho chính xác là khoảng độ 6 phân và từ đây sang đây 20 phân và ta đặt vị trí vẽ 1 đường nét trước và ta đắp cái đất lên trên và đây vẽ 1 đường nét nữa và lại đắp cái đất lên trên và cứ như thế và sẽ dày ra 3 ,4 tầng theo đường nét hoa văn. Khi ta làm đúng như vậy thì sẽ làm ra 1 cái sản phẩm có hồn…."

Không chỉ sáng tác mảng gốm trang trí bình, chum, lọ… mà nghệ nhân Vông còn đi vào nghệ thuật gốm chân dung. Mỗi tác phẩm của ông không chỉ là hình hài mà đều có cái hồn và tính cách riêng.

Nghệ nhân Vông: "Người hầu thì phải cười ra làm sao, cúi như thế nào tùy theo.. Ý thức của tôi là đang làm 1chú tễu đang nghỉ ngơi không phải đi hầu. Khuân mặt chú Tễu đang nghỉ ngơi này là rất vui vẻ với công việc , đã thanh thản nghỉ và tôi đã làm cái cười và 2 bàn tay đặt vào nhau thể hiện công việc đã hoàn thành".

 

Hơn 40 năm gắn bó với nghề, bàn tay trần nặn gốm đã trở nên điêu luyện, và dù đã ở cái tuổi lục tuần nhưng sức sáng tạo của người nghệ nhân này vẫn căng đầy. Ngày ngày. ông vẫn miệt mài, tỉ mẩn nắn nót những thớ đất làm nên các tác phẩm đạt đến độ hoàn mỹ. Vậy là làng gốm Luy Lâu đã sống lại. Từ việc mày mò sáng tạo một mình, nay nghệ nhân Nguyễn Đăng Vông đã mở nhiều lò sản xuất gốm với quy mô lớn, đào tạo nhiều lớp thợ trẻ để gốm Luy Lâu không chỉ được khôi phục mà còn  có thể phát triển mạnh mẽ trở lại trong tương lai.

Bẵng đi hàng nghìn năm, gốm cổ Luy Lâu bỗng “trỗi dậy” như một phép màu trước sự ngỡ ngàng của nhiều người. Dù chặng đường phía trước của nghệ nhân Vông và những người con Luy Lâu còn dài, nhưng bằng tình yêu, sự chân thành với đất và lửa, họ sẽ còn cống hiến cho đời những tác phẩm nghệ thuật gốm sống mãi với thời gian.  Cùng sinh ra từ mảnh đất Kinh Bắc, đều từng có thời kỳ phát triển huy hoàng rồi có lúc mai một nhưng trong khi gốm Thổ Hà chỉ còn trong ký ức, gốm Luy Lâu mới được khôi phục lại thì gốm Phù Lãng lại hồi sinh rực rỡ. Nằm bên bờ sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng mang vẻ trầm tư của một làng nghề gốm cổ. Cái sắc nâu “vàng óng da lươn” của gốm Phù Lãng hàng trăm năm nay vẫn phảng phất cái chất quê, hồn quê mộc mạc, bình dị đến nao lòng. Sau đây, mời quý vị cùng đến thăm làng gốm Phù Lãng, hòa chung với không khí làm việc tấp nập của những người thợ để cảm nhận rõ hơn sức sống mạnh mẽ của làng gốm này.

Nếu gốm Thổ Hà lấy nguyên liệu chủ yếu là đất sét xanh, gốm Luy Lâu là đất sét chứa nhiều sắt, Bát Tràng là đất sét trắng, thì gốm Phù Lãng là đất sét hồng đỏ gạch. Xương đất sét có mầu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao sẽ chuyển sang hai mầu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen hay còn gọi là men da lươn. Cũng giống như làng gốm Thổ Hà xưa, gốm Phù Lãng được tạo hình trên bàn xoay tay. Tuy nhiên, kỹ thuật làm tráng men ở đây lại không thể trộn lẫn. Men được làm từ tro cây rừng - thường là lim, sến, táu và nghiến, trộn với vôi sống, sỏi nghiền nát và bùn phù sa trắng theo một tỷ lệ nhất định. Đây được coi là bí quyết của người làng. Sản phẩm chính của Phù Lãng là những vật dụng dùng trong gia đình từ chiếc bát, vại, ấm, nồi, chum đến những chậu hoa, đôn cảnh và cả những tiểu quách dùng trong mai táng...

Ông Phạm Văn Tình - Làng gốm Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh: "Gốm của chúng tôi chủ yếu là gốm gia dụng, mình vừa làm nghề, vừa sống bằng nghề và sử dụng luôn cái sản phẩm mình sản xuất ra. Những sản phẩm như niêu đất dùng để kho cá hay ấm sắc thuốc hay là những cái chum để làm tương, những cái vại để muối cà thì vẫn có rất nhiều người đến mua những sản phẩm này".

 

Những chiếc chum, vại, tiểu sành, lu nước hay niêu đất đã gắn bó với người làng Phù Lãng từ hàng trăm năm qua. Tuy nhiên nếu chỉ có sản xuất gốm gia dụng thì làng nghề sẽ không thể theo kịp với nhịp độ phát triển ngày nay. Năm 2000 trở thành 1 năm có ý nghĩa lớn đối với làng gốm Phù Lãng bởi sự xuất hiện của sản phẩm gốm mỹ nghệ. Người đầu tiên đưa dòng gốm mỹ nghệ về làng là họa sĩ Vũ Hữu Nhung - một người con của làng nghề.

Họa sĩ Vũ Hữu Nhung: "Kể về lí do phát triển dòng gốm mỹ nghệ ở làng nghề".

 

Ngày nay người làng Phù Lãng vẫn sản xuất song song 2 sản phẩm là gốm gia dụng và gốm mỹ nghệ. Các sản phẩm gốm mỹ nghệ ngày nay được làm cầu kì hơn và cũng tốn nhiều công hơn. Những người con của làng nghề ngày nay phần lớn đều theo học ngành mĩ thuật để về làng phát triển nghề gốm. Những chiếc niêu đất, chiếc tiểu sành, cái chum làm tương, cái vại muối cà vẫn song hành cùng những bức tranh gốm, những sản phẩm điêu khắc để làm nên sức sống mới cho làng gốm Phù Lãng hôm nay.

Ông Tình: "Các cháu đi học nó lại đưa thêm hoa văn vào gốm thì sẽ làm đẹp thêm cho sản phẩm gốm của làng Phù Lãng".

 

Đây là xưởng gốm của gia đình anh Vũ Hữu Nhâm. Từ những chiếc chum, chiếc lọ thô sơ, gốm nhà anh đã trở mình đẹp hơn nhờ những họa tiết trang trí như bức tranh về thôn quê, hay những bông hoa sen... Gốm mỹ nghệ  đã mang đến nhiều công ăn việc làm hơn cho người dân làng nghề. 

Anh Vũ Hữu Nhâm - Phù Lãng - Quế Võ - Bắc Ninh: "Từ khi có gốm mỹ nghệ đã mang đến nhiều công ăn việc làm hơn cho người dân làng nghề".

 

Vuốt nặn thành hình, trang trí cầu kỳ nhưng như vậy vẫn chưa thể có một sản phẩm gốm hoàn thiện. 1 mẻ gốm thành hay bại còn phụ thuộc vào con mắt và bàn tay của những con người này... Người làng nghề vẫn trân trọng gọi họ là phó lò...

Ông Phạm Thế Tuệ: "Làm cả tháng trời thời gian dài như thế nhưng sản phẩm cuối cùng chỉ trong 72 tiếng đồng hồ nằm trong bàn tay và con mắt của người phó lò..."

 

Sau khi gốm được phơi khô, những xe gốm mộc được người làng chở đến lò nung để đưa gốm vào lò. Mỗi 1 lò gốm như thế này có thể đun được khoảng hơn 1000 sản phẩm. Lò nung gốm ở làng Phù Lãng là lò bầu  và có một điều đặc biệt hơn cả ở Phù Lãng đó là cho đến nay người ta vẫn chỉ nung gốm bằng củi. Nhờ sự biến nhiệt khác nhau tạo ra những vết táp trên bề mặt gốm mà không phương pháp nào có thể thay thế.

Ông Phạm Thế Tuệ - Phù Lãng - Quế Võ - Bắc Ninh: "Đặc trưng của gốm Phù Lãng là men da lươn nên chỉ có thể đun bằng củi..."

 

Nhiệt độ của lửa, nhiệt độ của gốm...đều không có thước đo...Tất cả đều dựa vào sự quan sát bằng mắt thường và kinh nghiệm của những người đốt lò. Dù là ngày hè nóng bức hay ngày đông lạnh giá, những phó lò vẫn tất bật bên củi lửa để kịp cho ra những mẻ gốm phục vụ nhu cầu thị trường. Ông Phạm Văn Kiên đã theo nghề phó lò hơn 30 năm qua.

Mỗi 1 lò nung như thế này sẽ có khoảng 2 phó lò thay phiên nhau làm việc cả ngày lẫn đêm. Mỗi phó lò sẽ có thêm 2 người hỗ trợ... Mỗi một mẻ gốm được nung liên tục trong 72 tiếng, khoảng 3 ngày 2 đêm. Củi được đưa liên tục vào lò. Người thợ sẽ căn cứ vào mức củi để nâng nhiệt và hạ nhiệt cho lò nung...

Ông Phạm Văn Kiên: "Tính cả lò này hết khoảng 40 khối củi. Làm nghề này mà vào mùa hè thì nóng lắm mồ hôi cứ nhễ nhại ra..."

 

Trong quá trình nung gốm, đôi mắt của những phó lò không khi nào rời khỏi cửa lò. Họ nhìn vào ánh lửa để biết được rằng gốm đã chín đến đâu... Anh Nguyễn Văn Quang là thế hệ phó lò trẻ của làng Phù Lãng… Anh sẽ đảm nhiệm trông lò vào buổi đêm...

Anh Nguyễn Văn Quang - Phù Lãng - Quế Võ - Bắc Ninh: "Lúc nào cũng phải trông vào ngọn lửa thì mới cho ra mẻ gốm đẹp. Mùa đông thì đun lò nó đã vất hơn mùa hè..."

 

Đối với người dân làng gốm mỗi mẻ lò là toàn bộ vốn liếng, công sức của cả gia đình trong suốt 1 tháng. Chính vì vậy mà người phó lò tuyệt đối không được để sai sót... Dù là ban đêm thì đôi mắt của họ không lúc nào rời khỏi cửa lò. Vì nung gốm bằng củi nên những phó lò luôn phải tỉnh táo để đảm bảo đủ lượng nhiệt trong lò...

Anh Nguyễn Văn Quang: "Buổi tối chúng tôi đun lò thế này những người hàng xóm thường đến uống nước và tham khảo kinh nghiệm đun lò với nhau..."

 

Mỗi buổi tối đun lò như thế này, những phó lò lại ngồi cùng nhau trao đổi với nhau về kinh nghiệm đun lò... Ngọn lửa vẫn cháy suốt đêm..  Sáng ngày hôm sau, lò nung gốm của anh Quang đã bước sang ngày thứ 3 cũng là ngày nung cuối cùng... Ngoài 2 phó lò thì những người thợ phụ cũng có mặt để giúp sức... Củi tiếp tục được đưa vào lò để tăng nhiệt. Bước này gọi là đại hỏa. Ngoài cửa chính, trên bầu lò còn có 18 mắt lò chạy dọc theo 2 bên. Trong lúc này, người phò lò sẽ mở mắt lò để quan sát...họ nhìn vào màu lửa trong lò rồi mới đưa ra quyết định sẽ tăng nhiệt hay bớt nhiệt. Quá trình nâng nhiệt được thực hiện liên tục với tất cả các mắt lò. Sau khi nâng nhiệt xong thì quá trình nung gốm cũng hoàn tất. Cửa lò và các mắt lò được bịt kín để ủ gốm. Khoảng 2-3 ngày sau, lò gốm đã hạ nhiệt, từng sản phẩm gốm sẽ được ra. Sau quá trình nung trong lửa, gốm đã khoác lên mình những màu nâu trầm truyền thống của làng Phù Lãng....

Những mẻ gốm đẹp được ra lò cho thấy công việc của những phó lò đã hoàn tất... Những chiếc chum, vại, lọ, tiểu sành lại được ra lò và đi đến muôn nơi... Trải qua hàng trăm năm, vẻ đẹp bình dị của gốm Phù Lãng vẫn được gìn giữ bởi những người dân làng gốm, trong đó không thể thiếu đôi mắt thử lửa của những phó lò như thế này...

Chúng ta đã cùng đi qua 3 làng gốm của xứ Kinh Bắc xưa, từ làng gốm Thổ Hà đến gốm Luy Lâu và gốm Phù Lãng. Trải qua biết bao thăng trầm, có làng vẫn phát triển mạnh mẽ, có làng mới đang hồi sinh, cũng có làng gốm chỉ còn vang bóng, khiến bao người tiếc nuối. Mỗi dòng gốm lại mang một số phận khác nhau nhưng dù là huy hoàng hay đã mai một thì với những người con của làng gốm đó, gốm vẫn mãi là niềm tự hào của làng.

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi