Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Khoa học nông nghiệp | Công nghệ bảo quản trái vải sau thu hoạch

Khoa học nông nghiệp | Tại các tỉnh phía Bắc như Bắc Giang hay Hải Dương, cây vải được xem là cây trồng chủ lực. Theo thống kê mới nhất diện tích cây vải tại các tỉnh miền Bắc của nước ta vào khoảng 58,8 nghìn ha. Những năm gần đây, sản lượng vải luôn ở mức cao từ 300-350 nghìn tấn/năm, đứng thứ 3 trên thế giới (sau Trung Quốc, Ấn Độ). Mặc dù là cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao, nhưng đây lại là loại quả dễ bị hư hỏng sau khi thu hoạch. Chính vì thế mà việc chú trọng đầu tư công nghệ bảo quản sau thu hoạch luôn được quan tâm đặc biệt.

Khoa học nông nghiệp | CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN TRÁI VẢI SAU THU HOẠCH

Trái vải là một trong những loại hoa quả đặc sản của nước ta, thường chín rộ vào tháng 5 tháng 6 âm lịch hàng năm nhờ có giá trị dinh dưỡng cao: protein; lipid; đường; canxi (Ca); phốt pho (P); sắt; và nhiều loại vitamin và axit hữu cơ có lợi cho sức khỏe khác. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu rau quả, công tác bảo quản sau thu hoạch đối với loại quả này đã và đang gặp rất nhiều khó khăn.

 Thời gian thu hoạch quả vải gần hai tháng với một sản lượng lớn như thế và đặc tính của quả vải là loại quả dễ hư hỏng thì vai trò của bảo quản, hay còn gọi là công tác sau thu hoạch đối với quả vải là rất quản trọng. Thứ nhất là nó có tác dụng giải quyết vấn đề đầu ra trong một thời gian ngắn đối với một loại quả đặc sản này, thứ hai nữa là một trong những cái cách để chúng ta có thể quảng bá một loại quả của Việt Nam ra thị trường thế giới.

Quả vải sau khi thu hái sẽ diễn ra quá trình phân hủy các chất dinh dưỡng ở trong quả: đường; axit; vitamin C,... nhằm mục đích duy trì hoạt động sống của quả. Theo nguyên lý, nhiệt độ càng cao ở thời điểm thu hoạch (nhiệt độ từ 30-40 độ C) thì quá trình phân hủy, quá trình hô hấp càng tăng nhanh (khiến quả vải nhanh bị thối hỏng). Do đó, để giữ được giá trị thương phẩm của quả vải nhiều hơn thì cũng không hề dễ dàng.

Theo các nhà nghiên cứu rau quả, hiện nay, công nghệ bảo quản sau thu hoạch đối với các loại quả nói chung và quả vải nói riêng gồm: bảo quản tươi và biến. Trong đó, bảo quản tươi đối với quả vải hiện nay chỉ có duy nhất phương pháp bảo quản lạnh.

Xét về nguyên lý, bảo quản quả tươi nói chung và quả vải nói riêng thực chất là đình chỉ được quá trình sinh lý sinh hóa và quá trình hô hấp của quả vải ở mức thấp nhất. Các chuyên gia và nhà khoa học cũng tính toán rằng sau thời gian từ 25-30 ngày bảo quản (tức là thời hạn bảo quản) thì các lượng chất dinh dưỡng và giá trị cảm quan  bên ngoài của quả vải gần như thay đổi rất ít so với quả vải ban đầu. Cụ thể vẫn giữ được khoảng 90% từ độ tươi cho đến trạng thái, màu sắc của quả vải. Còn giá trị dinh dưỡng chỉ giảm 10% so với quả vải nguyên liệu ban đầu.

Tại đây sau khi lựa chọn, phân loại quả vải xong, những trái vải được nhúng trong dung dịch nước đá như thế này, ở nhiệt độ nước đá đang tan từ 2-5 độ C.  Qúa trình này được gọi là làm lạnh sơ bộ. Sau đó, sẽ được xếp vào thùng xốp, bên dưới thùng xốp có sẵn một lượng đá nhất định khoảng từ 3-5kg/1 thùng vải 20kg và được bọc kín bằng túi nilong để tránh nước chảy ra ngoài. Sau đó xếp vải lên trên, và được trùm lại bằng một lớp màng PE ở phía trên. Đối với phương pháp này thời gian bảo quản được dưới 10 ngày. Đấy cũng là một kỹ thuật đình chỉ quá trình sinh lý sinh hóa quá trình hô hấp của quả vải.

Theo nguyên lý, nhiệt độ càng thấp thì quá trình phân hủy đấy, quá trình hô hấp đấy càng giảm (tức là quá trình phân hủy càng chậm xảy ra). Tuy nhiên với quả vải nó có thể chịu được nhiệt độ từ 1-3 độ C  vì vậy chúng ta càng giảm được nhiệt độ xuống cái ngưỡng chịu đựng của nó từ 1-3 độ C thì cái quá trình này nó sẽ diễn ra chậm hơn vì vậy sẽ giữ được giá trị thương phẩm của quả vải nhiều hơn. Phương pháp bảo quản lạnh như trên cũng được sử dụng để bảo quản đối với các lô hàng xuất đi các thị trường dễ tính khác như: Canada; Malaysia,... Tuy nhiên sẽ phải sử dụng thêm một lớp màng MAP. Đây là công nghệ bảo quản quả vải tươi sử dụng công nghệ bằng màng MAP của Viện Hàn Lâm khoa học công nghệ, đã nghiên cứu thành công từ năm 2013. Đến nay vẫn được các chuyên gia đánh giá cao, và thị trường ưa chuộng. Việc sử dụng bảo quản bằng màng MAP sẽ bảo quản được 4 tuần sau thu hoạch. mà không ảnh hưởng đến chất lượng, tổn thất sau bảo quản dưới 10%.

Đây là màng PE thông thường trên thị trường, còn đây là màng map. Trên màng này có rất nhiều lỗ nhỏ tạo điều kiện cho những thực phẩm bảo quản trong này nó hô hấp và tự cân bằng bầu khí quyển trong bao gói với bên ngoài. Công nghệ MAP được hiểu đơn giản là sử dụng màng bao bọc nông sản trong các vật liệu chắn khí. Trong đó môi trường khí được điều tiết một cách thích hợp nhất. để ức chế tác nhân gây hư hỏng nhờ đó sẽ duy trì thời gian sống tự nhiên của quả vải, mà vẫn đảm bảo chất lượng nông sản. Như những năm trước thì quả vải có thể bảo quản được đến 6 tuần. Nhưng năm nay đang ở tuần thứ 4 nó gần như là quả vải lúc mình thu mua về.

Màng Map này có tác dụng là gì, nó cho một lượng hơi ấm ra nhất định trong đó vẫn khô ráo nhưng vẫn giữ được một lượng ẩm, để cho quả vải nó không bị biến màu, đồng thời giữ được một lượng CO2 và Oxi nhất định theo yêu cầu tối thiểu của quả vải. Sau khi quả vải được đóng trong màng MAPsẽ được bảo quản ở nhiệt độ lạnh thông thường nhiệt độ từ 1-3 độc C với quy trình bảo quản như thế thì quả vải sẽ được bảo quản từ 28-30 ngày. Còn đối với các thị trường xuất khẩu đi xa, khó tính như: Mỹ; Úc,... thì ngoài sử dụng phương pháp bảo quản lạnh và sử dụng màng MAP thì quy trình còn yêu cầu phức tạp hơn.

Đây là quy trình công nghệ sơ chế, xử lý và bao gói bảo quản vải tươi phục vụ xuất khẩu do Viện cơ điện và nông nghiệp sau thu hoạch, thuộc Bộ NN&PTNT quản lý vận hành. Công nghệ này được ứng dụng từ năm 2016 tại tỉnh Bắc Giang, với công suất hoạt động 1 tấn/giờ, tương đương hơn 20 tấn/ngày. Tương tự như bảo quản vải thông thường, sau khi thu hái, những trái vải sẽ được đưa về đây và cũng được nhúng nước đá ở nhiệt độ từ 3-5 độ C nhằm đình chỉ quá trình sinh lý sinh hóa, hô hấp của quả vải. Sau đó sẽ được phân loại như thế này. Tuy nhiên khâu này lại rất quan trọng đến kết quả thông quan cho cả lô hàng. Ngoài ra, sau khi sơ chế đóng gọi tại đây, thì trái vải phải mang đi chiếu xạ trước khi mang đi tiêu thụ. Việc chiếu xạ cũng là một trong những quy định bắt buộc về kiểm dịch thực vật để quả vải của Việt Nam vào Mỹ, Úc. Cụ thể quả vải tại đây sẽ được xử lý bằng bức xạ 400ghi để loại bỏ tất cả các loại sâu côn trùng có thể có trong quả vải. Hoạt động này được các cơ quan quản lý thực hiện nghiêm ngặt.

Đối với một số thị trường khác như thị trường ÚC hoặc thị trường Mỹ nó yêu cầu sau khi xử lý axit xong được làm khô và đóng trong các bao bì MAP lại còn tiếp tục được chiếu xạ, đấy là một trong những quy định về kiểm dịch đối với 2 nước Úc và Mỹ. Cũng theo các nhà nghiên cứu rau quả, ngoài việc đảm bảo đúng quy trình, thông số kỹ thuật, thông số công nghệ để  kéo dài thời gian giá trị thương phẩm của quả vải. Thì trước đó việc chú trọng đến quá trình chăm sóc, cận thu hoạch tạo ra quả vải có chất lượng tốt là điều hết sức cần thiết bởi quyết định đến thời gian bảo quản. Thứ 2 về công nghệ bảo quản. Theo tài liệu chúng tôi cập nhật được với quả vải hiện nay chỉ dử dụng được công nghệ bảo quản lạnh và kèm theo đó là các phương pháp xử lý. hiện nay viện tiếp tục nghiên cứu có thể sử dụng hóa chất sinh học nào đấy để khắc phục nguyên nhân gây suy giảm giá trị thương phẩm của quả vải. Hiện nay có thể bảo quản nhiệt độ lạnh là bao nhiêu .

 Bảo quản quả sau thu hoạch nói chung luôn được các nhà khoa học thế giới đặc biệt quan tâm. Tại Hàn Quốc, hiện các nhà nghiên cứu đã phát triển được kỹ thuật phủ nano có thể bơm phun, sử dụng chất polyphenonl hữu cơ này để bảo quản rau quả. Kỹ thuật này cũng ngăn sự biến dạng của sản phẩm và nhiễm chéo dung dịch phủ. Sau 1 tháng, những quả quýt này giữ được nguyên hình dạng và chất lượng tốt hơn nhiều so với những quả không được phủ. Trong khi đó, những quả dâu tây được phun phủ cũng tươi hơn quả không phủ đến 58 tiếng đồng hồ.So với phương pháp ngâm, kỹ thuật phun mới này mất chưa đến 5 giây. Các chất chống oxi hóa polyphenol có nguồn gốc thực vật thường được dùng làm phụ gia thực phẩm nhờ đặc tính kháng khuẩn và chống ung thư. Tại Mỹ, một công ty khởi nghiệp ở nam California đã tạo ra một lớp phủ từ các  hợp chất hữu cơ không độc hại, bao gồm nhiều chất béo và glycerolipid trích xuất từ vỏ, hạt và tinh bột trái cây thải loại khác nhau. kết quả là một loại bột, được trộn với nước và phun lên hoa quả tươi.

Sản phẩm đã nhận được sự chấp thuận của Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Mỹ Lớp phủ Apeel này được cho là không màu, không mùi và không vị, có thể thay thế cho sáp phủ vốn thường được sử dụng cho sản phẩm ở cửa hàng rau quả. Sản phẩm này cũng được cho là sẽ giúp chống lại lãng phí thực phẩm ở những nơi không tiếp cận được với máy làm lạnh.

Bảo quản hoa quả sau thu hoạch là khâu quan trọng trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Nhưng hiện nay, đa số nông dân và các cơ sở sản xuất, thu mua đều thu hoạch và mua bán rau quả theo tập quán, không có quy trình bảo quản sau thu hoạch. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm, làm hạn chế khả năng xuất khẩu của trái cây Việt Nam. Vì vậy, yếu tố quan trọng đặt ra đối với ngành rau quả Việt Nam là triển khai đồng bộ các giải pháp: quy hoạch vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ, máy móc thiết bị từ khâu thu hái đến khâu bảo quản. Trước mắt, cần xây dựng hệ thống bảo quản, dự trữ hiện đại, bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế để bảo đảm chất lượng rau quả và làm giảm tổn thất sau thu hoạch.

Ngoài bảo quản tươi thì việc chế biến xuất khẩu cũng đang được chú trọng, nhiều sản phẩm từ vải như sản phẩm Pure, nước vải cô đặc; vải lạnh đông hoặc vải nước đường, đã được sản xuất và thời hạn bảo quản lên đến từ 1-2 năm.Rõ ràng việc chế biến xuất khẩu sẽ là giải pháp hữu hiệu nhất để trái vải của Việt Nam không những có giá trị cao, mà giải quyết bền vững về đầu ra cho các vùng trồng vải một cách bền vững.

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi