Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Nông thôn mới | Giải pháp ứng phó với sạt lở đất, lũ quét ở miền núi

Nông thôn mới | Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Đến nay, người dân cả nước đã chứng kiến 20/21 loại hình thiên tai trên thế giới, ngoại trừ sóng thần. Trong đó, sạt lở đất, lũ quét, lũ ống ở miền núi, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc đã gây hậu quả nghiêm trọng với quy mô ngày càng lớn. Nhiều giải pháp ứng phó và giảm nhẹ thiệt hại đã được triển khai trên phạm vi cả nước. Nhưng còn rất nhiều nguyên nhân và hạn chế chưa được tháo gỡ để thực hiện có hiệu quả và thích nghi với tình trạng sạt lở đất, lũ quét, lũ ống và thiên tai cực đoan, khó lường đang diễn ra ở nước ta.

Nông thôn mới | Mới đầu mùa mưa 2018, song người dân các tỉnh Tây Bắc đã phải chứng kiến những trận mưa lớn đầy bất thường, chưa từng xảy ra.

Mưa lớn kéo dài liên tục từ ngày 23/6 đến ngày 27/6 đã gây ra những thiệt hại nặng nề về người và tài sản tại một số tỉnh như Lai Châu, Hà Giang, Lào Cai.

Trong vài ngày ngắn ngủi đã có 23 người chết, 10 người mất tích. Khoảng 200 ngôi nhà bị đổ và cuốn trôi, 2.800 ngôi nhà bị hư hỏng, hàng nghìn ha lúa, hoa màu, thủy sản bị thiệt hại, hàng nghìn gia súc, gia cầm bị cuốn trôi, nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch bị sạt lở nghiêm trọng. Tổng thiệt hại về kinh tế ước tính hơn 500 tỷ đồng.

Dù đã quen với mưa lũ, sạt lở khi mùa mưa đến, nhưng những gì vừa diễn ra khiến người dân và chính quyền các địa phương hết sức kinh ngạc.

6 ngôi nhà khu vực này đã bị cuốn trôi hoàn toàn. Có lẽ là lịch sử và các cụ già bảo khoảng 50 năm nay chưa bao giờ có một cái lượng mưa lớn như thế. Toàn bộ các tuyến đường quốc lộ đều ách tắc.

Mưa trải dài trên diện rộng ở khắp các tỉnh Tây Bắc, nhưng mưa lớn tập trung nhiều nhất ở Lai Châu, do vậy đây cũng là địa phương chịu thiệt hại nặng nề nhất.

Có những thời điểm, lượng mưa ghi nhận tại đây lên đến 400 mm - 500mm cao gấp nhiều lần so với mức trung bình.

Từ huyện Mường Tè, thành phố Lai Châu, cho đến huyện Sìn Hồ, đâu đâu cũng có lượng mưa lớn hàng trăm mm.

Một lượng nước khổng lồ, cấp tập đổ dồn trong thời gian ngắn đã gây lũ quét và sạt lở đất ở nhiều nơi.

Sạt lở kinh hoàng tại bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ đã cuốn phăng 3 lán nương, làm 5 người bị vùi lấp, cả bản bị cô lập hoàn toàn. Khối lượng đất đá sạt lở xuống khe sâu 30m, rộng 200m. Những mảnh ruộng và cả ao nuôi cá của người dân ven suối đã bị phá hủy hoàn toàn.

Hơn 10 ngày qua, Lai Châu vẫn có mưa, các tuyến đường vẫn bị sạt trượt. Dù lực lượng chức năng đã không ngừng nỗ lực tìm kiếm nhưng vẫn còn 4 thi thể vẫn đang nằm đâu đó trong đất lạnh. Khó khăn bởi vì lớp bùn vào trong khe suối này rất là dày, có chỗ 10-15m thì sợ các nạn nhân nằm sâu bên trong nên tìm kiếm bằng phương tiện thô sơ khó khăn . Giữa gian nhà sàn thắp nén hương cho người vợ và đứa con trai 14 tuổi của mình.

Trong cơn lũ kinh hoàng, chị Lò Thị Tem cũng mất đi đứa con trai của mình, thi thể của cháu đã được tìm thấy nhưng nước mắt của chị vẫn không ngừng rơi khi nhớ về đứa con mới lên 8 của mình. Không chỉ đối mặt với những mất mát về con người, tài sản, mà cả sinh kế của người dân Lai Châu là hàng nghìn ha diện tích đất nông nghiệp, hoa màu, lúa, đàn gia súc vật nuôi cũng bị thiệt hại hết sức nặng nề.

Hơn 1 ha cao su sắp đến kỳ cho thu mủ của anh Lò Văn Phuông chỉ trong 1 đêm đã bị gãy đổ gần 1 nửa. Những ruộng mạ anh mới gieo cấy chưa đủ tuần cũng bị  mất trắng. Lũ rút, mưa đã ngớt đi. Nhưng anh Phuông cũng không biết phải bắt đầu làm gì bởi bùn đất đã chon lấp hoàn toàn tài sản và ruộng nương của mình.

Sau lũ, 9.000 m2 ruộng lúa muộn đang chín của già đình chị Phức cũng đã trở nên tan hoang khiến chị không lo lắng về những ngày tháng sau này.

“Mấy nghìn mét vuông ruộng lúa muộn đang chín mà chưa kịp gặt hạt nào đã bị mất trắng, đất vùi lấp hết cả, còn cả thêm mấy nghìn mét ruộng lúa mới cấy, cũng bị đất đá vùi lấp. Bây giờ chẳng biết lấy gì mà ăn”.

Không chỉ anh Phuông, chị Phức mà hàng nghìn nông dân tại Lai Châu cũng rơi vào cảnh trắng tay chỉ sau trận lũ vừa qua. Theo thống kê từ Sở NN&PTNT tỉnh Lai Châu, gần 80% diện tích trồng trọt của bà con tại đây không thể khôi phục lại sau trận lũ lịch sử. Ước tổng thiệt hại về nông nghiệp đã lên tới hơn 300 tỷ đồng.  Tỉnh Lai  Châu sẽ hỗ trợ nông dân 100% giống cây trồng để khôi phục lại sản xuất. Với thiệt hại về gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản sẽ được hỗ trợ 30-50% chi phí thiệt hại.

Sau hơn 10 ngày xảy ra mưa lũ, Lai Châu vẫn đang "căng mình" khắc phục hậu quả, từng bước giúp dân ổn định đời sống. Tuy vậy công tác khắc phục gặp vô vàn khó khăn. Đường vào bản Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè có tới 50 điểm sạt lở, phương tiện cơ giới không thể lưu thông. Phương tiện cơ động nhất là xe máy cũng chỉ di chuyển được từng đoạn một.

Một số mặt hàng thiết yếu đã bắt đầu khan hiếm, tăng giá. Nếu tình hình này tiếp tục kéo dài thì nguy cơ thiếu đói sẽ xảy ra.

Ông MAI VĂN THẠCH - Chủ tịch UBND huyện Mường Tè, Lai Châu:

“Nếu tình hình này tiếp tục kéo dài thêm khoảng 20 ngày đến 1 tháng nữa thì nguy cơ thiếu hàng hóa sẽ xảy ra. Hiện nay chúng tôi đang khẩn trương nỗ lực khắc phục thông tuyến, sớm vận chuyển các mặt hàng xăng dầu, nhu yếu phẩm tới cho bà con”.

Lũ đã đi qua, những phương án khắc phục thiệt hại sau lũ cũng nhanh chóng được triển khai. Nhưng những hậu quả để lại đối với Lai Châu thì phải mất rất nhiều thời gian mới có thế vực lại.

Trong khi đó theo thống kê của UNND tỉnh Lai Châu, vẫn còn 658 hộ dân nằm trong vùng có nguy cơ cao xảy ra thiên tai.

Thông thường trong các đợt mưa cuối tháng 6, đầu tháng 7 hàng năm, mưa thường tập trung ở các tỉnh phía Đông Bắc như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng hay Hà Giang với lượng mưa không lớn. Tuy nhiên trong đợt mưa năm nay, tâm mưa lại lệch về phía Tây Bắc nhiều hơn và mưa đến sớm hơn. Tổng cục khí tượng Thủy văn nhận định, lịch sử chưa từng có trận mưa lớn đầu mùa như thế này ở khu vực Tây Bắc.

Và vào cuối tháng 6, những đợt mưa có lượng mưa  300 - 400mm như thế này là chưa từng gặp, đây cũng là một cái biểu hiện rất rõ của biến đổi khí hậu, tức là biến đổi khí hậu đã đưa ra những hiện tượng cực đoan và nó thường xảy ra vào đầu mùa hoặc cuối mùa. Như là cái đợt mưa tháng 10 năm ngoái là biểu hiện rất rõ của lượng mưa cực đoan, và cái phạm vi của nó rất hẹp, chỉ xảy ra ở 1 số tỉnh ở Sơn La, Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang.

Lượng mưa dồn dập trong 1 thời gian ngắn, vùng đất ở đây địa hình rất dốc, địa mạo đất bở dời mà lại trương đầy nước thì tự tạo ra cái sạt trượt khối mảng lớn xảy ra trên diện rộng của toàn tỉnh Lai Châu, 1 phần của tỉnh Hà Giang, thứ 2 gây ra hiệu ứng lũ ống cục bộ. Chính 2 tác nhân này đã gây ra thiệt hại rất lớn về người, cơ sở hạ tầng về tài sản của dân sinh cũng như của nhà nước.

Lũ ống, lũ quét, sạt lở đất là câu chuyện không mới ở khu vực miền núi phía Bắc, nhất là vùng cao Tây bắc khi mùa mưa về.

Thế  nhưng, nó luôn là câu chuyện đau lòng, khi tính mạng của hàng trăm con người, tài sản hàng nghìn tỷ đồng của Nhà nước và nhân dân bị cuốn phăng bởi những trận “đại hồng thủy” kinh hoàng.

Việt Nam được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) đánh giá là nước có tỉ lệ phá rừng nguyên sinh đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Nigeria.

Còn theo Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN-PTNT, từ năm 2012-2017, trung bình mỗi năm xảy ra trên 1.000 vụ phá rừng. Riêng 4 tháng đầu năm 2018, cả nước ghi nhận hơn 4.220 vụ vi phạm về quản lý và bảo vệ rừng.

Đó là chưa kể đến hàng ngàn ha diện tích rừng tự nhiên bị mất do chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.

Khi xảy ra mưa lũ, cây rừng có tác dụng cản sức nước và rễ cây sẽ hút phần nào nước lũ. Nhưng khi rừng đầu nguồn bị chặt phá, cường độ của lũ lụt sẽ càng khốc liệt hơn.

Chúng ta đều biết rằng rừng tự nhiên nó có tác dụng với môi trường khác hẳn đối với rừng trồng, chính vì thế rừng tự nhiên nó có năng lực điều tiết tất cả lượng nước mưa, 80 - 90 - 100% trở thành nước ngầm, vậy nó không có nước chảy tràn trên mặt, không có lũ, lũ quét. Nhưng bây giờ nó có rừng trồng nhiều hơn, đặc biệt có đất trống đồi trọc, cứ mưa xuống là nó có nước chảy tràn trên mặt và nó quét đi những cái gì mà nó gặp ở giữa đường, trong đó có cả sinh mạng, nhà cửa, trâu bò, nhà máy rồi tất cả các thứ.

Với diện tích hàng triệu héc ta, rừng Tây Bắc ngoài vai trò là “mái nhà” đảm bảo an toàn sinh thái, còn có nhiệm vụ phòng hộ cho các nhà máy thủy điện. Mất rừng, hồ chứa các nhà máy thủy điện về mùa khô cạn kiệt, mùa mưa xả lũ ngày càng căng thẳng. Mất rừng, lũ quét, lũ ống, sạt lở núi liên tiếp xảy ra với những hậu quả ngày một nặng nề …

Ông LÊ THANH HẢI - Phó Tổng giám đốc Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường:

“Sau khi xem xét lại những đợt lũ ống lũ quét sạt lở đất đá chúng tôi thấy rằng có rất nhiều hình thức, cách thức khác nhau ví dụ ở Mường La, Sơn La và Mù Cang Chải, Yên Bái năm ngoái thì sau 1 thời gian rất dài, mưa đã tích lũy nước, đất đá bị ngấm nước sâu, thậm chí 1 số khe sông khe suối thì đất đá lở đã chặn lại sau đó nước lũ nó bục cái đấy ra, và nó chảy xuống suối tạo lên bằng 1 hiệu hứng domino từ chỗ này đến chỗ khác. Thế còn sau đó ở Tân Lạc, Hòa Bình hoặc Phù Yên Sơn La thì hình thức nó lại khác, địa hình địa chất ở đấy yếu, cả 1 quả đồi sạt xuống, năm nay ở Lai Châu cũng thấy tình trạng như vậy”. Các chuyên gia nghiên cứu về rừng đánh giá, dù Việt Nam là quốc gia nhận thức vấn đề môi trường, phát triển bền vững và nay là biến đổi khí hậu từ rất sớm nhưng năng lực quản lý rừng của nước ta chưa tốt và cần phải gấp rút thay đổi trong thời gian tới.

GS.TSKH NGUYỄN NGỌC LUNG -Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững:

“Thế rỗng là rỗng cái gì, rỗng là rỗng cái năng lực của rừng về cung cấp nguyên liệu nhưng cái ấy nó không quan trọng bằng năng lực của rừng để chống lại biến đổi về khí hậu, đặc biệt năng lực của rừng về đáp ứng được nhu cầu của xã hội, chứ không phải cho 1 vài cái ngành quản lý về rừng. Cái thứ 2 là nhu cầu về môi trường bây giờ nó cực kỳ lớn, cả thế giới chúng ta nói rằng là chúng ta sẽ chết chính vì chúng ta phá hoại môi trường. Thế thì rừng là 1 cái cần phải xây đựng đầu tiên vì nó là nhân tố chủ đạo để làm ra một cái môi trường tốt”.

 Để giảm thiểu rủi ro thiên tai, công tác dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai cũng vô vùng quan trọng. Tuy vậy, theo ngành khí tượng thủy văn, trước những diễn biến khó lường của thiên tai cực đoan, công tác dự báo cảnh báo cũng trở nên khó đoán định hơn.

Mặc dù những năm qua, Nhà nước đã có những đầu tư lớn về mặt nhân lực và tài chính cho công tác dự báo nhưng vẫn chưa đáp ứng được trong bối cảnh thời tiết và thiên tai diễn biến thất thường.

Ông LÊ THANH HẢI - Phó Tổng Giám đốc Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường:

“Có những hiện tượng thì chúng ta có thể đưa ra những cảnh báo sớm, ví dụ hạn hán ở Nam Bộ có thể đưa ra trước 5-7 tháng, nhưng có đợt mưa lũ thì chỉ đưa ra trước được vài ngày, cơn bão thì chỉ đưa ra được trước 1, 2 ngày và thậm chí các đợt dông lốc, lũ quét, sạt lở chỉ đưa ra trước được 1 ngày , thậm chí 12 tiếng. Trước đây hiện tượng cực đoan lâu lâu mới xảy  ra một lần nhưng bây giờ nó xảy ra thường xuyên hơn, khó đoán định cho chúng tôi hơn”. 

Hơn 160 nhân khẩu tại bản Sáng Tùng đã thoát chết trong gang tấc nhờ phát hiện sớm khe nứt tại chân núi nơi bản ở. Việc phát hiện trận sạt lở này lại do chính những người dân trong bản chứ không phải do thiết bị cảnh báo thiên tai.

Anh GIÀNG A HÁNH - Phó Trưởng bản Sáng Tùng, xã Tả Ngảo, Sìn Hồ, Lai Châu:

“Mình thấy cái rãnh nó sạt gần 3 ngón tay, xuyên cả bản luôn, mình rủ mấy anh em đi kiểm tra và báo cho cả bản là cứ tránh xa ra chỗ khác. Thế thì ở bản lúc lũ về là thóc, xe máy, các loại máy móc, gà, vịt bị trôi hết, lấp hết”

Theo chính quyền địa phương, sạt lở nghiêm trọng diễn ra tại bản Sáng Tùng khiến họ hết sức kinh ngạc bởi nơi người dân bản đang ở gần 20 năm nay đã không xảy ra sạt lở.

Trực tiếp có mặt và chỉ đạo khắc phục tình hình sạt lở tại Lai Châu, ông Trần Quang Hoài, Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đánh giá, ở khu vực Lai Châu có địa hình dốc, chủ yếu là núi đất, dễ bị sạt trượt, khi mưa lớn sẽ gây ra lũ quét. Trong khi hệ thống cảnh báo tại khu vực này chưa đáp ứng được yêu cầu, nếu người dân không phát hiện sớm và sơ tản thì thiệt hại sẽ rất nghiêm trọng.

Nhìn lại trận mưa lũ lịch sử tại huyện Mường La, Sơn La vào đầu tháng 8/2017 cũng cho thấy, công tác cảnh báo tại chỗ của người dân vô cùng quan trọng.

Mưa lũ khiến xã Nặm Păm tan hoang chỉ sau 1 đêm, mọi thiết bị cảnh báo đến người dân đều không thể hoạt động

Nhưng nhờ được trưởng bản cảnh báo bằng loa phóng thanh cầm tay trong đêm mà hàng trăm người dân bản Hua Nặm đã sơ tán kịp thời. Đây cũng là bản duy nhất không có thiệt hại về người tại huyện Mường La trong trận mưa lũ được đánh giá là lịch sử này. Tổ chức JICA của Nhật Bản đánh giá, đây là một kỳ tích của thế giới trong thiên tai.

Anh CÀ VĂN BIÊN - Trưởng bản Hua Nặm, xã Nặm Păm, Mường La, Sơn La

“Vào 10 giờ mình đi kiểm tra tình hình mưa lũ trên thượng nguồn thì thấy lũ sắp tràn về bên bản thì thông báo cho bà con là tất cả mọi người đều phải di chuyển. Khi mất điện, hệ thống nhà văn hóa không thể phát huy được nữa, mình cầm chiếc loa này đi để hô bà con cho thuận lợi vì tiếng nó to, mọi người ở xa đều nghe thấy, những người ngủ trong nhà cũng nghe thấy hết”.

Anh LƯỜNG VĂN ĐẠI - Bản Hua Nặm, xã Nặm Păm, Mường La, Sơn La:

 “Trời tối, nếu không có loa này thì người dân sẽ không nghe thấy, nói mồm thì tiếng nó bé, có loa này nó nói to thì người dân ai cũng biết thì mới kịp chạy”.

Theo thống kê từ Tổng cục khí tượng thủy văn, Bộ TN&MT, hiện cả nước có tới hơn 700 quận, huyện nhưng chỉ có 600 trạm quan trắc về dự báo khí tượng, với nhân lực 500 người. Tính bình quân mỗi 1 cán bộ quan trắc, cảnh báo về thiên tai sẽ quản lý địa bàn của 2 huyện. Đó là chưa tính tới địa bàn của hàng nghìn thôn, bản, xã vẫn còn bị bỏ ngỏ chưa có lực lượng quản lý về công tác dự báo thiên tai…

Hiện nay, hệ thống quan trắc, đặc biệt là trạm đo mưa tại khu vực miền núi phía Bắc đã được đầu tư nhưng vẫn còn mỏng so với số lượng, quy mô vùng có nguy cơ thiên tai, do vậy rất khó khăn trong việc đánh giá lượng mưa 1 cách chính xác.

Ông LÊ THANH HẢI - Phó Tổng giám đốc Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường:

“Và những nơi mưa lớn như Mù Cang Chải, Mường La hoặc Sìn Hồ và Tam Đường năm nay đều không có những trạm đo để khẳng định, như vậy rõ ràng là đang có thiếu hụt về số liệu. Một cái nữa là thường chúng tôi đưa ra bản tin dự báo cảnh báo thì thường đưa ra bản tin cảnh báo cho 1 khu vực rộng lớn theo hướng cả huyện Tam Đường, cả huyện Sìn Hồ mà chưa khu trú được vào những bản, thôn có khả năng lũ quét và sạt lở cao để làm được việc đó thì cần phải phối hợp liên ngành ở Viện địa chất khoáng sản đưa ra bản đồ phân vùng”.

Còn theo Viện Khoa học địa chất và khoáng sản, Bộ TN&MT, từ năm 2012 đến nay, hơn một nửa trong số khoảng 15 tỉnh miền núi phía Bắc được điều tra hiện trạng đã có bản đồ phân vùng cảnh báo thiên tai. Đây là một giải pháp thiết thực, cứu cánh cho các địa phương được thụ hưởng và tạo ra cái nhìn tổng quan về thiên tai và những nguy cơ tại nơi mình đang sinh sống. Tuy nhiên, bản đồ phân vùng này chưa đáp ứng được với thực tiễn.

PGS.TS Khoa học VŨ CAO MINH - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học địa chất và khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường:

“Nếu nói về yêu cầu thì nó 2 cái chưa đạt, 1 là về tỷ lệ thì đây mới là chung cho 1 khu vực lớn ở tỉnh, huyện cho nên chỉ khoanh vùng được những vùng nào khả năng có nguy cơ cao chứ chưa chi tiết được. Muốn để các thôn bản tự chủ động đối phó với thiên tai thì nhất thiết mỗi thôn, bản - nơi mà có nguy cơ cao cần có được bản đồ, sơ đồ chỗ nào điểm nào thường hay xảy ra biết mà tránh.  Tôi cho rằng muốn có hệ thống cảnh báo thì ngay ở trung ương chúng ta phải thống nhất nguyên tắc xây dựng chứ mỗi địa phương làm theo 1 nguyên tắc thì thiêu đi độ chính xác cần thiết”.

Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG - Cục trưởng  Cục Ứng phó và Khắc phục hậu quả thiên tai, Bộ NN&PTNT:

“Đa phần chính quyền, Ban CHPCTT các địa phương chia sẻ với chúng tôi r ằng rất khó trong việc ứng dụng, chỉ đạo và điều hành. Với cái màu đỏ thể hiện trên bản đồ ý thì người ta nói rằng là cái chỗ mà dân đang ở cũng phải di dời đi hết mà cũng không tìm được chỗ nào trên bản đồ đưa được người dân đến ở. Trong quá trình thực hiện chúng tôi đã nhiều lần góp ý với Bộ TNMT ngoài việc chúng ta xây dựng bằng công nghệ thì phải có phối hợp với các địa phương, hiệu chỉnh lại phù hợp với thực tiễn thứ 2 là lũ quét sạt lở đất thường đi với nhau nên phải tích hợp 2 bản đồ vào nhau”.

Trong khi dự báo, cảnh báo thiên tai hạn chế, tốc độ di dân chậm do nguồn lực nhà nước có hạn thì giải pháp nâng cao năng lực nhận thức, ứng phó với thiên tai tại cấp cơ sở được nhiều ý kiến đánh giá vô cùng quan trọng.

Phòng chống thiên tai phải bắt đầu từ cấp cơ sở mà ở đây, thôn, bản, xã là cấp mà chính quyền địa phương và người dân là những nhân tố đầu tiên phát hiện dấu hiệu của rủi ro thiên tai và triển khai phương án ứng phó đầu tiên. Tuy nhiên nguồn lực về con người đầu tư cho giải pháp này còn bỏ ngỏ. Lực lượng thôn bản phải là nơi phát hiện đầu tiên sớm nhất, hiện nay lực lượng này chúng ta chưa có. Cái khó nữa là Ở thôn bản hiện nay cái chức danh này thì ông trưởng bản kiêm hết ông ấy làm quá nhiều việc. mà khả năng không thể gánh vác hết được. Cái này có lẽ cần phải có nghiên cứu, tổ chức lại lực lượng này thì mới có thể làm tốt được cảnh báo, còn tất nhiên trong vấn đề thiên tai thì nó xảy ra rất bất ngờ không thể nói trước nhưng chúng ta cảnh báo, rà soát được sớm nhất thì nó hạn chế thiệt hại gây ra.

 Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG - Cục trưởng Cục Ứng phó và Khắc phục hậu quả thiên tai, Bộ NN&PTNT:

“Hiện nay, đội ngũ này ở cấp tỉnh đã là rất mỏng, ở cấp huyện thì phải nói quá mỏng, nhiều nơi còn k có cán bộ chuyên trách về pctt, còn ở cấp xã hiện nay theo quy định hiện hành thì chưa có công chức nào được chịu trách nhiệm quản lý nhà nước ở cấp xã về pctt đây là cái lỗ hổng chúng ta phải sớm kiện toàn. Vì pctt là hoạt động cơ sở là chính, rất nhiều hoạt động phải bắt đầu từ cấp cơ sở. Cái thứ 2 lực lượng pctt chủ yếu làm theo kinh nghiệm kế thừa đội ngũ làm công tác quản lý đê điều phòng chống lụt bão trước đây kiêm nghiệm”.

Cũng theo các chuyên gia nghiên cứu, địa hình của hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc khá phức tạp, với nhiều khu vực có núi cao chia cắt, hệ thống sông suối có độ dốc lớn, nhưng nhận thức của người dân đang sinh sống tại khu vực này lại chưa cao, vẫn đánh bắt thủy sản, vớt củi trên sông suối tại vùng nguy hiểm khi xảy ra lũ và vẫn làm nhà ở khu vực ven suối.

PGS.TS Khoa học VŨ CAO MINH - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học địa chất và khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường:

“Chúng ta không nhận thức tốt được hiểm họa thiên tai mà do cái áp lực đất đai, dân số ta cứ ra ven suối làm nhà làm cửa. Vừa rồi chúng tôi đi cách đây 1 tháng thôi thì còn rất nhiều cụm dân cư ven suối hoặc cửa suối, thì chính việc làm ấy của người dân thì làm tăng rủi ro thiên tai”.   

Ông  HÀ VĂN ÙM - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Lai Châu:

“Để hạn chế được thiệt hại thì vấn đề cần làm tốt công tác tuyên truyền để mọi người đều cảnh giác và có ý thức phòng chống thiên tai thì mới có thể khắc phục được. Hiện nay với thói quen như vậy người ta cứ làm nhà gần suối trông ruộng, thì khi người ta ý thức được rằng làm lán trại ở khu vực này có bị ảnh hưởng không thì người ta sẽ tìm được chỗ an toàn hơn”.

Theo Tổng cục phòng chống thiên tai, để ứng phó với thiên tai trong bối cảnh thời tiết dị thường, cực đoan như hiện nay, phương châm "4 tại chỗ" cũng đang được đẩy mạnh thay đổi.

Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG - Cục trưởng Cục Ứng phó và Khắc phục hậu quả thiên tai, Bộ NN&PTNT:

“Ngày xưa 4 tại chỗ không có xây dựng phương án, kế hoạch k có đánh giá rủi ro thiên tai nhưng 4 tại chỗ giờ phải làm căn cơ bài bản từ cấp xã, phải đánh giá rủi ro, nâng cao nhận thức cộng đồng, phải đào tạo cho ng dân kỹ năng phòng tránh, phải thường xuyên diễn tập, khi có tình huống xảy ra tránh bị động. Tổng cục pctt đã phối hợp với Trung ương hội chữ thập đỏ vn triển khai xây dựng những đội liên kết ứng phó thiên tai thảm họa, lúc đầu liên kết xd tại 3 tỉnh, hiện nay nâng lên 4 tỉnh và tiếp tục xây dựng thời gian tới”.

Theo Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, mặc dù nước ta có luật, đề án, chiến lược quốc gia phòng chống thiên tai với chỉ tiêu rõ ràng nhưng do nguồn lực có hạn rồi cách tổ chức chưa sát thực tiễn, trang thiết bị dự báo, cảnh báo, cứu hộ cứu nạn lạc hậu nên khi có thiên tai xảy ra còn lúng túng. Để ứng phó, phòng chống với các loại hình thiên tai xảy ra ở khu vực miền núi về lâu dài cần phải có chương trình tổng thể, kết hợp nhiều giải pháp, huy động nhiều nguồn lực thực hiện.

 

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT HOÀNG VĂN THẮNG - Phó trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai:

“Về lâu dài chúng ta phải có 1 loạt biện pháp, tiếp tục thực hiện chương trình di dân khỏi  vùng có nguy cơ cao, tiếp tục nâng cao năng lưc dự báo, năng lực tự ứng phó của chính quyền cơ sở cũng như người dân và cái thứ 3 lâu dài hơn chúng ta từng bước ổn định lại dân cư miền núi. Cũng phải nói là những cái vùng như vậy thì phải tìm cách bảo vệ những vùng có tính chất trữ nước, có tính chất cản nước thật tốt. Rồi các biện pháp như hỗ trợ sinh kế để tiết giảm hơn nữa việc phá rừng làm nương rẫy, hỗ trợ cho bà con có thể thâm canh cao trong phát triển của mình, phải lựa chọn những vùng có nguy cơ cao để chúng ta làm trước”.

Thiên tai và biến đổi khí hậu đang tác động đến nước ta không theo một quy luật nào với sức tàn phá ngày càng ghê gớm, không thể đoán định. Do vậy, những giải pháp triển khai và thực hiện cũng phải phù hợp với thực tiễn

Nếu thiên tai là do biến đổi khí hậu toàn cầu, theo quy luật tự nhiên thì cần phải thích ứng, còn nếu thiên tai do con người tạo ra nhất quyết cần phải ngăn chặn, thay đổi gắn với phát triển bền vững.

 

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi