Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Nông thôn mới | "Mỗi xã một sản phẩm": Động lực phát triển nông thôn bền vững - NTM 415

Nông thôn mới | Bắt nguồn từ Nhật Bản, chương trình mỗi xã một sản phẩm đã trở thành nguồn cảm hứng cho các chương trình tương tự ở hơn 40 quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, từ thành công của tỉnh Quảng Ninh và đúc rút kinh nghiệm của quốc tế, chương trình "Mỗi xã một sản phẩm - OCOP" vừa được Chính phủ phê duyệt thành chương trình quốc gia, giai đoạn 2018 - 2020. Trọng tâm của chương trình là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, góp phần tái cơ cấu nền kinh tế nông thôn theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị. Tuy vậy, để chương trình này đi vào cuộc sống và triển khai hiệu quả trên phạm vi cả nước là cả một bài toán vô cùng khó khăn, nếu chúng ta không có cách làm sáng tạo, quyết liệt.

Nông thôn mới | " MỖI XÃ MỘT SẢN PHẨM": ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BỀN VỮNG

Vùng trồng na dai tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đang chuẩn bị cho thu hoạch.

Nhà chị Hà có 7 mẫu trồng na, nằm trong số hộ dân có diện tích na dai lớn nhất thị xã Đông Triều. Thu nhập mỗi năm đạt từ 500 - 600 triệu đồng. Những năm gần đây, chị Hà luôn chú trọng đến việc chăm sóc, để cây na ra quả đều, đẹp, chất lượng tốt.

Chị NGUYỄN THU HÀ - Xã An Sinh, huyện Đông Triều, Quảng Ninh

“Sản xuất thì tất cả cũng đều tuân theo các quy định về chăm sóc. bón phân cũng như thuốc BVTV”

Theo người dân, cây na đã được trồng ở địa phương hàng chục năm nay. Với lợi thế đất đỏ son, tơi xốp, na luôn cho sản lượng tốt, nhưng thu nhập lại không được là bao. Bởi do canh tác theo phương thức truyền thống nên kích cỡ, mẫu mã quả na không đồng đều, thương lái thu mua với giá thấp.

Mãi đến năm 2012, khi bắt đầu manh nha triển khai chương trình Mỗi xã một sản phẩm - OCOP gắn với xây dựng nông thôn mới, tỉnh Quảng Ninh thực hiện xây dựng thương hiệu sản phẩm cho quả na dai Đông Triều thì cây na mới thực sự là cây trồng giúp nông dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu.

Đặc biệt, trong quá trình canh tác cây na, ý thức của người dân đã thay đổi rõ rệt.

Từ chỗ cây na chỉ cho thu hoạch 1 vụ trong năm, thời gian thu hoạch rất ngắn, áp lực tiêu thụ lớn thì nay, người dân đã biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để cây na ra quả rải vụ.

Chị HOÀNG THỊ QUYÊN - Xã An Sinh, huyện Đông Triều, Quảng Ninh

Đây cành như thế này đây, thì phải cắt như thế này, lộc ra sau đó mình chấm.... nay mai tháng 11, 12 là được thu

Bên cạnh biện pháp thu hoạch rải vụ, tránh tình trạng được mùa, rớt giá, ở Đông Triều cũng đã có những nông dân tiên phong trồng giống na mới, đó là na tím.

Dù na tím có chất lượng tương đương na dai, nhưng theo anh Nguyễn Văn Cần, ban đầu việc tiêu thụ cũng không được thuận lợi.

Anh NGUYỄN VĂN CẦN - Xã An Sinh, huyện Đông Triều, Quảng Ninh

“Vì dân người ta nghĩ giống na này cũng chưa có trên thị trường, hai , ba năm nay thì có thương hiệu na sạch, bắt đầu có cái tiếng ra ngoài thì mới bán được. Thì gia đình đang chuẩn bị nhân thêm”.

Xác định trong tương lai cây na vẫn sẽ là cây trồng chủ lực của địa phương, nên xã An Sinh định hướng tiếp tục khuyến khích nông dân sản xuất na theo tiêu chuẩn an toàn, để quả na làm ra không chỉ được tiêu thụ bởi thương lái mà còn được liên kết tiêu thụ với các chuỗi cửa hàng an toàn và dán tem nhãn nguồn gốc xuất xứ.

Chị NGUYỄN THU HÀ - Xã An Sinh, huyện Đông Triều, Quảng Ninh:

“Mình rất mong muốn trong thời gian tới, quả na của mình khi ra thị trường thì người tiêu dùng biết được nguồn gốc xuất xứ, hiện nay chính quyền địa phương cũng đang từng bước thực hiện công việc này bằng cách liên kết các hộ gia đình thành HTX, như vậy khi xuất hàng thì cũng có cái chứng minh nguồn gốc xuất xứ”.

Ông PHẠM DUY KHIÊM - Chủ tịch UBND xã An Sinh, huyện Đông Triều, Quảng Ninh

“Hiện nay thị xã đã xây dựng logo cho na dai, đã thành lập HTX và có hội na dai Đông Triều, Tỉnh cũng chỉ đạo sx na theo vietgap, tỉnh cũng đã quy hoạch được.... Về tem nhãn thì hiện nay nông dân vẫn chưa quen đồng thời có diện tích lớn nên là muốn triển khai cái này phải có cả 1 hệ thống, một chuỗi sản xuất và tiêu thụ theo quy chuẩn”.

Na dai Đông Triều là một trong những sản phẩm được đông đảo người dùng đánh giá cao trong mỗi lần giới thiệu sản phẩm OCOP của tỉnh Quảng Ninh. Sản lượng na khai thác ở Đông Triều luôn đạt khoảng 6.000 tấn/năm, trong đó 90% được tiêu thụ tại các thị trường ngoài tỉnh, như Hà Nội, Hải Dương… Đây cũng là sản phẩm Ocop được tỉnh Quảng Ninh nói chung và thị xã Đông Triều nói riêng tập trung đẩy mạnh phát triển.

Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” được triển khai tại Quảng Ninh thời gian qua còn giúp cho hàng triệu lao động nông thôn của tỉnh được hưởng lợi trực tiếp từ chương trình này.

Từ khi trở thành xã viên của hợp tác xã nông dược tinh hoa, thu nhập bình quân mỗi tháng của bà Hà Thị Oanh là 4 triệu đồng.

Số tiền mà trước đây phải 2-3 vụ lúa bà mới giành dụm được

Bà HÀ THỊ OANH - Xã Quảng La, huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh

“Từ ngày có HTX mình đi vào đây, thu nhập có một chút cho gia đình, HTX mà còn làm thì chị vẫn làm ở đây”.

3 năm trước, HTX nông dược xanh tinh hoa được thành lập theo chương trình OCOP của tỉnh Quảng Ninh, nhằm phát huy tiềm năng về các loại thảo dược thiên nhiên sẵn có của địa phương và kinh nghiệm của người dân.

60 xã viên của hợp tác xã, chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao tham gia vào hợp tác xã….Và giờ, họ đã có thu nhập ổn định từ 3,5 – 6tr đồng.

Ông PHẠM THANH PHONG - Giám đốc HTX Nông dược Xanh tinh hoa

“Hệ thống bán hàng ocop của Quảng Ninh kéo dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh.... nên chúng tôi rất thuận lợi”

Bắt đầu triển khai từ năm 2013, đến hết năm 2016, toàn tỉnh Quảng Ninh có 180 tổ chức, cơ sở, hộ sản xuất tham gia với trên 200 sản phẩm được đăng ký thương hiệu. Giá trị của sản phẩm từ chương trình này cao hơn các sản phẩm cùng chủng loại từ 20-30%. Doanh thu OCOP của Quảng Ninh trong 3 năm này đạt hơn 670 tỷ đồng, vượt gấp 3 lần so với đề án đặt ra. Nhiều sản phẩm đã chiếm lĩnh được thị trường trong nước và vươn ra thị trường nước ngoài.

Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đã triển khai 103 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm theo chương trình OCOP. Tổng vốn thực tế đã huy động để sản xuất đạt gần 400 tỷ đồng. Tỉnh Quảng Ninh cũng là địa phương đầu tiên phê duyệt đề án OCOP giai đoạn 2 ( 2017 – 2020).

Ông ĐẶNG HUY HẬU - Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh

“Đây là 1 chương trình Quảng Ninh tự tìm tòi triển khai, kết quả phải nói rất là mừng từ chỗ mình khuyến khích động viên, cầm tay chỉ việc cho bà con xây dựng tổ chức sản xuất, đăng ký sản phẩm thì giờ này phải nói 1 điều rất mừng cũng k phải động viên nữa, người ta rất say xưa người ta làm và tìm mọi cách cho tốt”.

Ngoài Quảng Ninh, OCOP đã trở thành làn gió mới trong nông nghiệp của nhiều địa phương thời gian qua. Tuy chưa triển khai chính thức thực hiện chương trình nhưng một số tỉnh như Bắc Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Sơn La, Quảng Nam, Hà Tĩnh hay Quảng Bình đã chú trọng phát triển những sản phẩm nông nghiệp là lợi thế của địa phương, nâng cao thu nhập cho nông dân. Những thành công ban đầu này đã tạo một bước đệm vững chắc hơn cho việc triển khai mô hình này trên cả nước.

Mới đây, tại Bắc Giang, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia đã chủ trì hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020. Chương trình này đặc biệt quan trọng vì được kỳ vọng sẽ đánh thức tiềm năng sản phẩm nông nghiệp của địa phương, gia tăng giá trị, nâng cao thu nhập cho nông dân, là công cụ quan trọng góp phần tích cực vào mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp.

Trọng tâm của chương trình OCOP là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể thực hiện. Chương trình xác định 6 nhóm hàng hoá, dịch vụ để thực hiện là: thực phẩm, đồ uống, thảo dược, lưu niệm - nội thất - trang trí, vải - may mặc và dịch vụ du lịch nông thôn.

Cả nước hiện có gần 5.000 sản phẩm nông nghiệp lợi thế, thuộc 5 nhóm sản phẩm. Trong đó nhóm thực phẩm có hơn 2.500 sản phẩm, hơn 1.000 sản phẩm đồ uống, 230 sản phẩm thảo dược, gần 600 sản phẩm thuộc nhóm dịch vụ du lịch nông thôn,... Mục tiêu chính của chương trình OCOP giai đoạn 2018 - 2020 là sẽ tiêu chuẩn hóa ít nhất một nửa số sản phẩm nông nghiệp lợi thế hiện có và kiện toàn 100% tổ chức kinh tế, phát triển mới ít nhất 500 tổ chức kinh tế tham gia chương trìnhOCOP. Các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất tham gia chương trình sẽ được áp dụng thực hiện các chính sách hiện hành của Nhà nước về phát triển ngành nghề, phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tổng kinh phí dự kiến khoảng 45.000 tỷ đồng.

Ông NGUYỄN XUÂN CƯỜNG - Bộ trưởng Bộ NN&PTNT

“Có thể nói đây là 1 chương trình rất tốt để thúc đẩy nội dung chương trình xây dựng NTM chúng ta về cả các phương diện, 1 là thúc đẩy sản xuất đa dạng hàng hóa, giải quyết lao động, thúc đẩy chuyển dịch quy mô hộ sang HTX, doanh nghiệp vừa vả nhỏ để đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp”.

Đến nay, 60/63 tỉnh, thành phố đã triển khai xây dựng đề cương Chương trình OCOP, trong đó 30 tỉnh đã lập xong đề án và 5 tỉnh là Hà Giang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Ninh Bình và Quảng Nam đã phê duyệt đề án.

Ngay sau khi được Chính phủ phê duyệt Đề án chương trình Mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 - 2020, tỉnh Bắc Giang đã khẩn trương tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập số liệu tại gần 1.400 cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh các sản phẩm theo 6 nhóm hàng hóa đã được xác định.

Với nhiều lợi thế trong phát triển nông nghiệp do có địa hình da dạng từ vùng núi, trung du đến đồng bằng, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi. Đặc biệt, đã hình thành một số vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn. Tỉnh Bắc Giang định hướng đến năm 2030 sẽ có 170 loại sản phẩm tham gia chương trình OCOP, tăng gấp 4 lần so với hiện tại.

Với những sản phẩm nông nghiệp đã có thương hiệu như gà đồi Yên Thế, việc triển khai thực hiện OCOP sẽ càng thúc đẩy thương hiệu gà đồi phát triển hơn nữa.

Ông NGUYỄN VĂN THÀNH - Phó chủ tịch UBND xã Đồng Tâm, Yên Thế, Bắc Giang

“Mừng ở đây chính là gì, là chúng tôi đang có sản phẩm đặc trưng của Yên Thế, của Đồng Tâm. Chúng tôi thấy khi chương trình này được triển khai thì giúp ích rất nhiều cho bà con cách tiếp cận, xây dựng thương hiệu và đặc biệt giúp bà con tăng thu nhập và bền vững làm giàu”.

Ngoài sản phẩm gà đồi, huyện Yên Thế có nhiều sản phẩm chủ lực khác như cây có múi, cây vải thiều hay cây chè. Dù có nhiều thuận lợi, nhưng theo đại diện phòng Nông nghiệp huyện Yên Thế, Bắc Giang, quá trình triển khai chương trình OCOP ở địa phương cũng gặp phải một số khó khăn.

Bà NGUYỄN THỊ THANH XUÂN - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Yên Thế, Bắc Giang

“Đặc biệt là đối với địa phương miền núi, cái khó là sx theo tập quán và đa canh có nghĩa là nhiều sản phẩm. Chúng tôi phải tổ chức, tập trung, tuyên truyền bà con khá vất vả. Như ở đây ngoài sản phẩm gà đồi còn có cây ăn quả có múi, cây vải. Chính vì vậy, không phải mỗi xã một sản phẩm là chỉ có 1 sản phẩm duy nhất mà vẫn có nhiều sản phẩm khác, nhưng phải có sản phẩm chủ lực để chúng ta thực hiện theo định hướng chung của Chính phủ và của Bộ Nông nghiệp”.

Khó khăn của tỉnh Bắc Giang cũng là khó khăn chung của nhiều địa phương hiện nay trong phát triển kinh tế nông nghiệp.

Vì thế, thay đổi nhận thức của người dân, cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế như hiện nay vô cùng quan trọng.

Mặc dù những năm qua, nông dân nhiều nơi đã và đang dần thay đổi tư duy, cách nghĩ, cách làm trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập cần giải quyết ngay.

Ông ĐÀO VĂN HỒ - Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại, Bộ NN&PTNT

"Cái nhu cầu thị trường rất lớn nhưng có thể chúng ta thừa thì vẫn là thừa những sản phẩm sản xuất chưa theo quy trình, chưa đáp ứng được yêu cầu của đối tác, chúng ta đang thiếu những sản phẩm chất lượng. Đó là bất cập của ngành nông nghiệp cần khắc phục.... Thông điệp của bộ trưởng đã nói chúng ta không chỉ sản xuất sản phẩm nông sản cho người Việt Nam mà còn cho thị trường quốc tế".

Với nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp, nông thôn khi thực hiện triển khai OCOP, huyện Yên Thế cũng đã ý thức được việc cần phải lựa chọn những sản phẩm chủ lực có thể phát triển trong tương lai.

Ông VŨ TRÍ HẢI - Bí thư kiêm Chủ tịch UBND huyện Yên Thế, Bắc Giang

“Không chỉ ở cấp huyện mà tôi nghĩ ở quốc gia cũng phải quan tâm, khi mỗi địa phương đều có thế mạnh nhất định thì chúng tôi phải xác định với Điều kiện cụ thể như tỉnh Bắc Giang hay Yên Thế thì mình phải xác định có thể mạnh gì, hướng đi, nhu cầu thị trường thế nào. Sau đó ưu tiên từ con giống đến quy trình, tóm lại là quan tâm đến chất lượng hàng hóa. Phải quan tâm đến quy hoạch vùng trước mà hiện nay nếu không có định hướng, không có quy hoạch mà mỗi xã 1 sản phẩm thì tôi nghĩ rất là khó khăn và như vậy rất khó trở thành hàng hóa, phát triển bền vững”.

Dù đã có những định hướng, nhưng những vấn đề đặt ra để phát triển một sản phẩm nông nghiệp địa phương trở thành sản phẩm hàng hóa còn nhiều gian nan.

Xã Lộc Thủy là xã thuần nông của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Tại đây cũng có nghề trồng cói, dệt chiếu và nấu rượu truyền thống được chính quyền địa phương tập trung quan tâm, xây dựng thành sản phẩm OCOP.

Sản phẩm chiếu cói của gia đình bà Bùi Thị Nga là 1 trong những mô hình tiên phong của xã Lộc Thủy khi thực hiện chương trình Mỗi xã một sản phẩm. Thu nhập từ chiếu ổn định nhưng việc phát triển nghề lại gặp nhiều khó khăn.

Bà BÙI THỊ NGA - Xã Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình

“Mình làm không có nguyên liệu, thiếu nguyên liệu có lúc phải đi nhập. Chính quyền đã đầu tư vùng nguyên liệu nhưng mà khó khăn lắm, mình đến thu mua nhưng dân không có”

Chính vì thiếu nguyên liệu cói, nên số lượng chiếu của gia đình bà Nga xuất bán cũng rất hạn chế. Trung bình mỗi ngày gia đình bà chỉ làm được khoảng 10 chiếc chiếu. Số lượng này cũng chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong tỉnh.

Bà BÙI THỊ NGA - Xã Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình

Mình muốn giữ cái nghề này chứ, lúc nào cũng muốn phát triển thương hiệu mình phải làm và đi tuyền truyền quảng bá giới thiệu sản phẩm của mình. Hiện sản phẩm của mình mới ở thị trường trong tỉnh thôi vì sản phẩm đẹp nhưng số lượng chưa đủ để cung cấp.

Nhiều năm qua, trong quá trình triển khai xây dựng Nông thôn mới, xã Lộc Thủy đã tập trung xây dựng mỗi thôn, xã một sản phẩm đặc trưng theo vùng. Đây cũng là hướng đi để nâng cao thu nhập cho người dân. Thế nhưng những sản phẩm từ làng nghề này vẫn còn là hạn chế khi chưa thu hút nhiều người dân tham gia.

Ông DƯƠNG CÔNG NHÂN - Chủ tịch UBND xã Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình

“Trong 2 làng nghề này cũng có cái khó khăn, đó là một xã thuần nông tuy nhiên việc đầu tư nâng cao sản phẩm chiếu cói thì yêu cầu lao động phải nhiều, hiện nay lực lượng tại địa phương già hóa, lực lượng trẻ đi làm ăn xa. Nên hiện nay phải đầu tư thu hút được lực lượng lao động. Thời gian tới thì địa phương vẫn khuyến khích người dân phát triển làng nghề, bằng mọi chính sách hỗ trợ cho người dân”.

Qua khảo sát thực tế tại 2 mô hình đó là làm chiếu và nấu rượu trong đề án mỗi xã phường một sản phẩm của xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Đoàn công tác của Bộ NN&PTNT đánh giá, sản phẩm làng nghề có chất lượng tốt, có tiềm năng để phát triển nhưng vẫn còn ở quy mô một số hộ, chưa tạo được thương hiệu đặc trưng và chưa có nhiều sản phẩm đa dạng để phục vụ nhu cầu thị trường và khách du lịch.

Ông NGÔ TẤT THẮNG - Phó Chánh Văn phòng Điều phối NTM Trung ương

“Chiếu chỉ là 1 sản phẩm thôi nhưng đa dạng sản phẩm từ cói này vô cùng nhiều, khách du lịch đến đây rất là nhiều chúng ta tại sao lại không có những tấm cói để bán ngồi thuyền, ngồi ô tô, rồi những cái giỏ xinh xinh để bán 5 nghìn, 10 nghìn. Những cây cói chúng ta cắt đầu đi rồi bỏ đi thì lãng phí. Một cái nữa là rượu thì khi chúng ta có gạo ngon thì chúng ta sẽ làm được rượu ngon, rồi gạo ngon sẽ làm được bánh bún, rồi chúng ta có mặt nước thì có thể làm những sản phẩm lưu niệm, bán khu du lịch”

Đối với tỉnh Quảng Ninh, dù đi đầu cả nước trong thực hiện Chương trình OCOP nhưng cũng không tránh khỏi vướng mắc. Một số sản phẩm OCOP dù đã có thương hiệu, có công nghệ sản xuất và chỗ đứng trên thị trường nhưng sản xuất vùng nguyên liệu còn hạn chế.

Phát triển cây trà hoa vàng là một ví dụ.

Giá trị của trà hoa vàng khá cao, gần 1 triệu đồng/kg hoa và khoảng gần 100 nghìn/ 1kg lá.

Tại huyện Ba Chẽ, nhiều nông dân đã đầu tư trồng cây dược liệu này.

Nhưng để trồng được trà hoa vàng thì không đơn giản. Loại cây này vẫn gặp sâu bệnh và có thể bị chết nếu khô hạn. Đặc biệt, việc nhân giống, trồng mới không dễ.

Anh NỊNH VĂN QUÂN - Xã Đạp Thanh, huyện Ba Chẽ, Quảng Ninh

“Việc nhân giống là rất khó, nó ko cần nước nhiều, nhưng lại ko chịu đươc hạn, và tháng Tư thì nó mới ra mầm, hoặc tháng 9. Nói chung là khó nhân giống”.

Cánh và nhụy hoa, chính là phần tinh túy nhất của loại cây này, và chỉ những cây đạt 5 tuổi trở lên, thì mới ra hoa.

Hiện nay, ở xã Đạp Thanh có vùng trồng trà hoa vàng gần 40ha, có 1 nhà máy chế biến có công suất 6 tạ chè/ ngày, và có thể sản xuất thành phẩm đến sản phẩm chè cuối cùng đến tận tay người tiêu dùng. Giá trị của cây trà hoa vàng vì thế đã được nâng lên rất nhiều. Bằng chứng là nếu 1kg trà hoa vàng tươi, nông dân thu về 1 triệu đồng, nhưng nếu chế biến thành trà hoa vàng sấy khô như thế này, sẽ có giá hơn 16 triệu đồng/kg.

Giá trị cây trà hoa vàng cao, chính vì vậy, mà khi xây dựng nông thôn mới, gắn với chương trình mỗi xã phường 1 sản phẩm, huyện Ba Chẽ đã chọn cây trà hoa vàng trở thành thế mạnh.

Bà ĐINH THỊ VỸ - Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Chẽ, Quảng Ninh

“Khi mà bước đầu đưa 1 sản phẩm vào cho người dân để chuyển thành sản xuất hàng hóa thì cái bắt nhịp của người dân cũng đã có nhưng mới chỉ dần dần thôi. Vì bà con vẫn đang quen theo hướng sx truyền thống. Huyện mong muốn làm thế nào có các đề tài nghiên cứu khoa học, giúp nhân giống được dòng cây tốt nhất, bằng cơ chế chính sách đã có rồi thì có thêm nguồn lực để hỗ trợ đổi mới công nghệ thiết bị cho chính doanh nghiệp, HTX và hộ dân khi mà tham gia chương trình”.

Trà hoa vàng tại Ba Chẽ đã có thương hiệu, được tỉnh Quảng Ninh tổ chức lễ hội tôn vinh 2 năm một lần. Nhưng sản lượng thu hoạch hạn chế do vùng nguyên liệu chưa đủ rộng nên chưa đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường. Chính quyền địa phương vẫn còn rất nhiều trăn trở trong việc phát triển loại cây dược liệu quý này.

Trong tiến trình thực hiện Chương trình OCOP, mỗi làng, xã tùy theo điều kiện cụ thể về tiềm năng, lợi thế riêng để lựa chọn những sản phẩm độc đáo xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân. Thậm chí những sản phẩm OCOP được xác định có tầm nhìn quốc gia và tiêu chuẩn toàn cầu.

Phó thủ tướng VƯƠNG ĐÌNH HUỆ

“Sản phẩm địa phương do cộng đồng địa phương, do nguồn lực địa phương, do đặc điểm địa phương nhưng chúng ta làm gia tăng nó lên bằng chương trình này và đây là một chương trình kinh tế chứ không phải là một phong trào. Và chúng ta làm tăng giá trị sản phẩm này lên thông qua việc xây dựng thương hiệu, hình thành chuỗi giá trị, gia tăng hàm lượng lao động có đào tạo cũng như khoa học công nghệ gắn với thị trường.”

Tuy nhiên, bên cạnh các sản phẩm chủ lực đã có thương hiệu thì nhiều sản phẩm nông nghiệp khác dù có tiềm năng phát triển, nhưng việc nhân rộng, thu hút đầu tư, xây dựng thương hiệu còn gặp vô vàn khó khăn. Đòi hỏi cần có những hỗ trợ nông dân trong suốt quá trình sản xuất.

Ông HOÀNG VĂN DŨNG - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Thái Nguyên

“Đối với địa bàn tỉnh TDMN nó có đặc biệt khó khăn riêng, địa hình chia cắt, ruộng đất chia cách manh mún, việc tích tụ ruộng đất khó khăn hơn các tỉnh đồng bằng, đây cũng là trở ngại thu hút các DN vào nông nghiệp. Một cái khó khăn nữa đó là tuy sản phẩm sản xuất ra với khối lượng lớn, cơ bản đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm, chất lượng nhưng đôi khi vẫn còn gặp nhiều kk trong tiêu thụ sản phẩm”.

Nhiều ý kiến cho rằng, khi phát triển OCOP cần đặc biệt coi trọng vai trò của các hợp tác xã. Bởi HTX tại các địa bàn sẽ thu hút và giải quyết được lực lượng lao động tại chỗ thông qua việc tổ chức sản xuất sản phẩm, HTX trở thành chủ nhân công nghệ, sở hữu nhãn hiệu hàng hóa và tổ chức sản xuất sản phẩm OCOP theo chuỗi giá trị... Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển HTX hiện nay vẫn còn hạn chế.

Ông ĐÀO VĂN HỒ - Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại, Bộ NN&PTNT

“Cái khó khăn trình độ cán bộ HTX còn yếu, nguồn vốn ít, đất làm trụ sở htx cũng chưa có chính sách cụ thể. Rất nhiều htx đã thay đổi theo mô hình từ năm 2012 nhưng thực chất lại chưa thể thay đổi. Đây cũng là nhiệm vụ của ngành nông nghiệp và đã có những chính sách.... Tôi nghĩ đây cũng là nhiệm vụ quan trọng để ổn định sản xuất, tránh tình trạng được mùa mất giá. Thì ngành nông nghiệp cũng đã chủ động vào cuộc, dự báo, kết nối thị trường, khuếch trương tiêu thụ, giúp nông dân xây dựng thương hiệu, tiêu thụ”.

Ngoài ra, cần phải tháo gỡ khó khăn trong việc định hướng thị trường, thúc đẩy tiêu thụ nông sản thông qua các chương trình Hội chợ xúc tiến thương mại, lễ hội, xây dựng những cửa hàng, trung tâm giới thiệu sản phẩm tới đông đảo người tiêu dùng. Về vấn đề này, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện rất tốt trong thời gian qua.

Ông NGUYỄN MINH TIẾN - Chánh Văn phòng điều phối Nông thôn mới Trung ương

“Có những hộ sản xuất sau 3-4 năm trở thành doanh nghiệp, doanh thu lớn mỗi năm, đây là kinh nghiệm để các địa phương học tập Quảng Ninh”

Sau 5 năm triển khai thực hiện OCOP, Quảng Ninh đã có rất nhiều kinh nghiệm quý báu. Bước sang giai đoạn 2, Quảng Ninh xác định sẽ xây dựng chiến lược phát triển các sản phẩm OCOP chủ lực cấp tỉnh và quốc gia. Theo đại diện UBND tỉnh, ngay từ khi triển khai, tỉnh Quảng Ninh đã rất nghiêm túc và quyết tâm thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm.

Ông ĐẶNG HUY HẬU - Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh

“Chương trình này không phải là một phong trào, đây là 1 chương trình kinh tế, ứng xử với chương trình này rất chi tiết, chứ không nóng vội mà cũng không hời hợt. Và cũng không thể nói thích mà được, có thể thất bại, nhưng nhất định phải kiên trì. Và 1 chương trình kinh tế nên ứng xử phải theo quy luật kinh tế, nhất định theo cơ chế thị trường, hàng hóa ra phải tốt, vấn đề nữa là phải hiểu được chương trình”.

Vấn đề khó nữa là bộ máy triển khai thực hiện ra làm sao, nếu không có bộ máy chuyên trách không làm được, hai nữa kể cả có bộ máy mà không nhiệt tình, không có trình độ rất khó làm.

Cũng theo ông Đặng Huy Hậu, khi triển khai thực hiện OCOP các địa phương cần phải nghiên cứu xây dựng thật tốt chính sách hỗ trợ.

Ông ĐẶNG HUY HẬU - Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh

“Đúng là người dân thật nhưng không có hỗ trợ của nhà nước không được, nhất là giai đoạn đầu. Hiện nay chúng tôi cũng vẫn có hỗ trợ, ví dụ lãi suất 6%, hỗ trợ điểm bán hàng, hỗ trợ thuê tiền đất, hỗ trợ khoa học công nghệ thế rồi chính sách về thương mại”.

Đó sẽ là những kinh nghiệm quý báu để các địa phương học tập triển khai. Tuy nhiên OCOP là một chương trình mở, không đóng khuôn và chưa có tiền lệ ở Việt Nam. Nhất là trong khi các địa phương lại có những điều kiện phát triển các sản phẩm OCOP khác nhau, nên việc triển khai phải hết sức thận trọng, bài bản.

Ông ĐÀO VĂN HỒ - Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại, Bộ NN&PTNT

“Các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội rất khác nhau, trình độ dân trí khác nhau vào cuộc của chính quyền địa phương của UB cấp tỉnh khác nhau, vì thế tôi thấy có rất nhiều khó khăn ở từng vùng, các địa phương vùng sâu vùng xa. Ví dụ Lai Châu, Điện Biên, Cao Bằng hoặc các tỉnh phía Nam khó khăn về tiềm lực kinh tế, dân sinh hay người tham gia văn phòng NTM hay đơn vị được giao nhiệm vụ triển khai OCOP cũng khó khăn. Chúng tôi mong muốn các địa phương, UBND các tỉnh vào cuộc mạnh mẽ hơn tập trung nguồn lực của địa phương để phát triển OCOP để phát triển chương trình OCOP toàn quốc, phát triển NTM thu nhập nông dân được tăng lên, đây là 1 trong nhiệm vụ ổn định kinh tế xã hội quốc gia, phù hợp đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp”.

Theo đại diện Văn phòng điều phối Nông thôn mới Trung ương, Mỗi xã một sản phẩm chỉ là tên gọi tương đối, quan trọng nhất ở đây là các sản phẩm được chuẩn hóa quy trình sản xuất, đề cao các giá trị truyền thống gắn liền với mỗi sản phẩm.

Theo đó, OCOP chuẩn hoá các sản phẩm của mỗi xã theo chu trình 6 bước trên cơ sở nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân thụ hưởng” gồm: Tuyên truyền, hướng dẫn về OCOP; Nhận đăng ký ý tưởng sản phẩm; Nhận phương án, dự án sản xuất kinh doanh; Triển khai phương án, dự án; Đánh giá và xếp hạng sản phẩm và cuối cùng là Xúc tiến thương mại.

Cũng theo ông NGUYỄN MINH TIẾN việc giám sát chất lượng sản phẩm OCOP quyết định sự thành bại của sản phẩm OCOP, đây là điều mà các địa phương cần đặc biệt quan tâm thực hiện. Và khi thực hiện được vấn đề này thì các sản phẩm OCOP sẽ không gặp phải tình trạng cung vượt cầu như nhiều sản phẩm nông sản đã gặp phải.

Có thể thấy, để Chương trình OCOP đạt được những thành công trong thực tế, cần có những cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư mở rộng, phát triển sản xuất, dịch vụ cho sản phẩm OCOP. Trong đó, cần xây dựng được kế hoạch chi tiết các sản phẩm chủ lực, phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến nguyên liệu và quản lý chất lượng sản phẩm. Ðồng thời, phát triển sản phẩm gắn với tiêu thụ, đào tạo nguồn nhân lực thực hiện đề án ngay tại địa phương. Ðáng chú ý, không thể thiếu sự tham gia đóng góp ý kiến của nông dân - những người trực tiếp làm ra các sản phẩm nhằm phát huy được tính sáng tạo của cộng đồng dân cư, mỗi người dân trong môi trường kinh tế thị trường.

Phó thủ tướng VƯƠNG ĐÌNH HUỆ

“Chương trình này góp phần thay đổi tư duy tập quán của người dân, phong cách của lãnh đạo. Thứ 2 chương trình này tạo ra động lực mới cho tái cơ cấu nn, sức sống mới cho xây dựng NTM và phát triển kinh tế nông thôn, động lực cho phát triển tăng trưởng bền vững.... Với ý nghĩa tốt đẹp như vậy tôi rất mong tất cả các cấp ủy đảng các đồng chí vào cuộc.... Phát triển kinh tế xã hội cũng là ở đây, phát triển bền vững, tăng trưởng bao trùm cũng ở đây, k cứ bao nhiêu phần trăm GDP trong nông nghiệp mới tập trung... đừng vì dự án lớn mà chúng ta quên mất chương trình OCOP này, quên mất chương trình NTM”.

Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cũng nhấn mạnh, chương trình OCOP phải được áp dụng trên phạm vi toàn quốc, trong đó từng địa phương sẽ có kế hoạch, lộ trình riêng, tránh dàn trải, phân tán.

Cũng như chương trình xây dựng NTM, OCOP là một quá trình thực hiện, có điểm khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc. Sau năm 2020, Chính phủ sẽ tổng kết để tiếp tục triển khai lâu dài. Đây là chương trình có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp của nước ta.

 

 

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi