Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Nông thôn mới | Nông thôn miền núi đổi thay sau 10 năm thực hiện "Nghị quyết Tam nông" - NTM 417

Nông thôn mới | Cách đây 10 năm Nghị quyết Trung ương 7 Khóa 10 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hay còn gọi là Nghị quyết 26 về Tam nông đã được ban hành. Đây là nghị quyết đầu tiên bao trùm đầy đủ nhất về lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam. Từ năm 1975 đến nay, các chính sách ban hành liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp đều hướng về một tiêu chí nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Sau nhiều năm thực hiện nhiều địa phương đã có những thay đổi vượt bậc trong phát triển. Bên cạnh đó cũng không ít những hạn chế cũng bắt đầu xuất hiện.

Nông thôn mới | Sở hữu 10ha chè, nhưng 10 năm trở lại đây, bà Thoi không phải chật vật "tự sản tự tiêu" như trước kia nữa. Bà đã liên kết với 1 doanh nghiệp sản xuất và chế biến chè ở tại địa phương để làm vùng nguyên liệu. Thay đổi cách thức sản xuất và tiêu thụ chè ngay tại vùng chè truyền thống là bước ngoặt lớn đối với đại đa số người trồng chè ở Thái Nguyên. Doanh nghiệp và nông dân đã hình thành nên những chuỗi liên kết, vùng sản xuất quy mô lớn.

Đây là dây chuyền sx và chế biến chè của ty chè Hà Thái. Nhưng búp chè được bà Đoi và các hộ nong dân liên kết với ty được đưa về đây để xử lý và chế biến. Thực hiện chủ chương của nghị quyết tam nông về phát triển kinh tế nông thôn, các cấp huyệ n và tỉnh cũng đã có những chính sách sát thực để để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào phát triển ngành chè, đưa chè trở thành sản phẩm chủ lực của Thái Nguyên. Liên kết sản xuất cũng là 1 trong  những thành tựu của ngành nông nghiệp Thái Nguyên  đã được Bộ NN&PTNT ghi nhận sau 10 năm thực hiện  Nghị quyết tam nông. Tuy nhiên, việc tích tụ đất đai mở rộng diện tích trồng chè còn nhiều rào cản cho cả phía doanh nghiệp và nông dân, khiến cho việc mở rộng vùng sản xuất theo tiểu còn gặp nhiều khó khăn.

Ông Phạm Duy Hùng - Chủ tịch UBND huyện Đại Từ, Thái Nguyên: "Đất sản xuất ở địa phương hiện còn manh mún , cần có cơ chế tốt để hộ dân dồn điền đổi thửa, cơ chế cho nông dân góp đất với doanh nghiệp để trồng chè..."

Để sở hữu diện tích trên 40 ha vùng nguyên liệu và khoảng 200 ha liên kết với nông dân, doanh nghiệp chè Hà Thái đã phải rất vất vả trong suốt.... năm qua để những con số này không bị giảm đi. Mặc dù nhìn nhận rõ được thực tế này, nhưng do còn thiếu nhiều cơ chế chính sách ràng buộc và quyền lợi cho nông dân nên bản thân chính quyền địa phương cũng chưa có cách giải quyết kịp thời.

Ông Phạm Duy Hùng -  Chủ tịch UBND huyện Đại Từ, Thái Nguyên: "Thứ 1 số vùng có thể nhiều hộ dân đồng ý dồn điền nhưng có vùng hộ dân  chưa đồng ý, nên còn xôi đỗ . Thứ 2 nữa là  về nhận thức tiếp nhận khoa học kỹ thuật trồng, sản xuất chế biến chè mới, an toàn chưa được đồng đều".

Tham gia trồng chè theo tổ hợp tác hay các HTX cũng đang là hướng pt bền vững của những người nông dân  trồng chè ở Thái Nguyên sau 10 năm thực hiện đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương. 

Nhờ tham gia vào các HTX trồng và chế biến chè sạch, người nông dân có thêm cơ hội tiếp cận với các quy trình trồng chè chất lượng quốc tế. Đánh số mã hộ, giống chè và tổng diện tích trồng là những thông tin bắt buộc đối với mỗi hộ trồng chè ở HTX Tân Hương – Thái Nguyên khi tham gia vào chương trình trồng chè theo tiêu chuẩn UTZ (hay còn gọi là UTZ Certified). Đây là đơn vị đầu tiên và duy nhất của tỉnh Thái Nguyên sản xuất chè sạch theo tiêu chuẩn châu Âu này.

 

Mặc dù quá trình chăm sóc đã được giám sát chặt chẽ và bản thân người trồng chè cũng phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt trong canh tác chè sạch. Nhưng khi đưa thành phẩm chè ra HTX tiêu thụ, những bao chè này còn phải trải qua 1 cuộc thanh tra nội bộ và định giá sản phẩm. Trồng chè theo tiêu chuẩn UTZ là chương trình do tổ chức phi chính phủ SOLIDARIDAD (Hà Lan) tài trợ cho HTX chè Tân Hương – Thái Nguyên, nhằm tạo ra sản phẩm chè sạch và an toàn. 

Hiện HTX chè Tân Hương có trên 40 thành viên trồng chè theo tiêu chuẩn UTZ với diện tích 22 ha. Mỗi năm HTX cung cấp cho thị trường 65 tấn chè khô tới các tỉnh trong cả nước. Sản phẩm gồm có 3 loại chính: Chè búp đặc biệt, chè tôm nõn và chè đinh. Giá bán trung bình từ 200.000 – 2 triệu/kg. Mỗi năm, 1 ha chè UTZ xã viên sẽ thu lãi 368 triệu đồng, nâng mức thu nhập tăng lên từ 15-20% so với cách làm truyền thống trước đây.

Theo báo cáo của ngành NN tỉnh Thái Nguyên, hiện cả tỉnh có trên 21 nghìn ha chè, tăng gần 28% so với năm 2008 trong đó, diện tích chè thuộc các Dn và liên kết với DN, HTX chiếm trên 50%  tổng diện tích

Mục tiêu của tỉnh Thái Nguuyên đưa sản phẩm chè là sản phẩm chủ lực, đem lại thu nhập chính cho bà con. Sau 10 năm, Một số vùng chè đặc sản đã có thu nhập cao vượt bậc như thành phố Thái Nguyên (vùng chè Tân Cương đạt 600-750 triệu đồng/ha), huyện Đồng Hỷ (vùng chè Trại Cài, Minh Lập đạt 500-600 triệu đồng/ha), huyện Đại Từ (vùng chè La Bằng, Tân Linh 500-670 triệu đồng/ha), huyện Phú Lương (vùng chè Tức Tranh, Vô Tranh 500-600 triệu đồng/ha)

 

Sau nhiều năm nỗ lực, thương hiệu chè Thái Nguyên đã dần được khẳng định, góp phần mang lại thu nhập cao hơn cho người trồng chè. Cuối năm 2017, nhãn hiệu tập thể "Chè Thái Nguyên đã được các cơ quan sở hữu trí tuệ của Mỹ, Trung Quốc và Đài Loan cấp văn bằng bảo hộ. Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao giá trị và năng lực cạnh tranh của sản phẩm chè Thái Nguyên tại các thị trường nước ngoài tiềm năng, hạn chế nguy cơ bị chiếm đoạt nhãn hiệu tại thị trường quốc tế..

Ông Đinh Hữu Phí - Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học công nghệ: "Thâm nhập được thị trường này thì việc xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm chè sẽ rất lớn và các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam có thể yêm tâm tuyên truyền quảng bá chè tại đây. Đồng thời, có cơ sở pháp lý để chống lại các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chè".

Đây vừa là tin vui xong cũng là thách thức không nhỏ đối với các hộ kinh doanh sản xuất chè tại Thái Nguyên. Bởi thực tế để tiếp cận được với các thị trường khó tính, các doanh nghiệp chè cần phải kiểm soát được vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Hiện nay,  sản lượng chè búp tươi của toàn tỉnh Thái Nguyên bình quân đạt khoảng 225 nghìn tấn/năm, giá trị sản xuất đạt 120 triệu đồng/ha. Sản phẩm chè Thái Nguyên đã có mặt trên thị trường 63 tỉnh, thành phố trong cả nước và một số nước trên thế giới như: Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Anh, Nhật Bản, Ấn Độ, Pakistan,…Sản lượng tiêu thụ nội địa đạt gần 39.000 tấn, xuất khẩu đạt hơn 3.800 tấn. Mặc dù trước mắt còn nhiều khó khăn để ngành chè, người sản xuất chè nâng cao chất lượng, giá trị gia các sản phẩm chè, nhưng Thái Nguyên đã xác định rõ đến năm 2020 diện tích chè giống mới sẽ đạt 80% diện tích toàn tỉnh; hỗ trợ sản xuất và chứng nhận an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP ; tăng cường công tác xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm để pt chè bền vững.

Là tỉnh giáp với Thái Nguyên, nhưng Bắc Kan lại được đánh giá là ít có lợi thế hơn. Xuất phát điểm về kinh tế - xã hội ở mức thấp, ví trí địa lý, điều kiện địa hình phức tạp. Thế nhưng sau 10 năm thực hiện nghị quyết tam nông, Bắc Kạn đã có những chuyển biến tích cực. 

Một trong số đó là chính sách tích tụ đất đai và cho thuê đất. Thực hiện việc hỗ trợ phát triển hợp tác xã kiểu mới, toàn tỉnh đã có có 3 hợp tác xã nhận ưu đãi từ chính sách giao đất, thuê đất. Sau khi được giao đất, các HTX đã tổ chức sản xuất có hiệu quả, bước đầu giải quyết được khó khăn do thiếu tư liệu sản xuất. Đây cũng được xác định là giải pháp đột phá trong phát triển nông nghiệp hàng hóa của tỉnh. 

 

Ông Trần Ngọc Quang - Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Bắc Kạn: "Ngày 4/8/2017 UBND tỉnh Bắc Kạn đã phê duyệt đề án tích tụ ruộng đất khi đề án có hiệu lực đây là cơ hội rất tốt để cho các HTX trên địa bàn tỉnh có điều kiện thuận lợi về tư liệu sản xuất, đặc biệt để áp dụng khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất để đem lại hiệu quả cho HTX".

 

Nghị quyết 08 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017 – 2020 là một cơ chế tạo động lực rất quan trọng. Trong đó, tập trung hỗ trợ về lãi suất khi vay vốn tín dụng để thay đổi phương thức sản xuất; chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm... Riêng đối với hỗ trợ về đất đai, tỉnh ứng trước ngân sách để trả tiền thuê đất. 

 Hiện nay,  trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn việc tập trung, tích tụ đất đai để thực hiện các công trình, dự án phát triển sản xuất nông nghiệp chỉ thực hiện theo phương thức nhà nước thu hồi đất để cho thuê. Tổng diện tích đất nông nghiệp đã tập trung, tích tụ đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là trên 1.740ha để thực hiện 07 dự án phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp. Bình quân diện tích đất tập trung, tích tụ là gần 249 ha/dự án. Trong đó, đất rừng sản xuất là 1.704,9ha; đất nông nghiệp khác là 8,2 ha; đất trồng cây lâu năm là 26,9ha. 

 

Thôn   Phiêng An 2, xã Quang Thuận,  huyện Bạch Thông. 10 năm về trước, vải, nhãn, xoài   đều đã từng được trồng ở mảnh đất này. Thế nhưng giờ đây thay thế vào đó là những vườn ổi, vườn chè.

 

Cả thôn Phiêng An 2 có tổng diện tích 23 ha, nhưng chỉ có khoảng 10ha đất bằng có thể làm nhà cửa và canh tác, còn lại là đất đồi dốc, diện tích sản xuất manh mún.

Mặc dù cho thu nhập ổn định hơn từ những cây trồng mới này, nhưng do điều kiện đất đai hạn hẹp, địa hình chia cắt bởi đồi núi nên việc sản xuất với số lượng lớn, và thu hút doanh nghiệp để thành lập tổ hợp tác hay HTX lại đang là khó khăn đối với địa phương này.

Ông Giáp cũng cho rằng, điều này còn có thể có 1 nguyên nhân nữa là do Quang Thuận là vùng trồng cam quýt là chủ yếu nên các cây trồng khác như ổi, chè khó có thể tạo nên quy mô lớn được. Nhưng ngay cả mặt hàng chủ lực là cam quýt thì việc phát triển chuỗi liên kết ở đây cũng còn gặp nhiều trở ngại. Chè, ổi hay cam quýt, mặc dù vài năm trở lại đây đã giúp người dân nâng cao được thu nhập. Thế nhưng đó là sự thay đổi chưa thực sự bền vững và ổn định. 

Tháng 2/2018 , xã Quang Thuận cũng đã được đón chứng nhận về đích NTM . Không phủ nhận những đổi thay tích cực về mọi mặt đời sống nông thôn ở địa phương, nhưng nhiều cái chuẩn của NTM ở Quang Thuận cũng như 9 xã khác của BK đã đạt được so với các địa phương khác trong cả nước còn 1 khoảng cách xa.

Theo báo cáo của tỉnh Bắc Kạn, sau 10 năm th ực hiện nghị quyết số 26-NQ/TW (nghị quyết TƯ số 26) . Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp đạt và vượt kế hoạch, tuy nhiên do chi phí trung gian bình quân của ngành tăng nên làm giảm giá trị gia tăng, chất lượng của các mặt hàng nông sản chưa cao, thiếu bền vững, khả năng cạnh tranh còn thấp; các cơ sở chế biến nông sản chưa gắn kết chặt chẽ với vùng nguyên liệu. Tình trạng “được mùa mất giá” vẫn diễn ra. Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới, kinh tế hộ vẫn là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ lực ở nông thôn với quy mô sản xuất nhỏ, chưa có sự liên kết, hợp tác với nhau.  Thu nhập ở nông thôn tuy có tăng (gấp 2,32 lần so với năm 2008) nhưng vẫn còn ở mức thấp. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm 7,82% so với năm 2008 nhưng chưa thực sự bền vững (cần có con số so sánh với 10 năm trước và với mức trung bình cả nước hiện nay).

Xuất phát điểm là 1 tỉnh miền núi có điều kiện về kinh tế xã hội ở mức thấp. Đặc biệt đối với Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới việc xây dựng hạ tầng đòi hỏi suất đầu tư lớn, khó khăn trong việc huy động người dân tham gia, chủ yếu trông chờ vào nguồn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, trong khi nguồn vốn đầu tư hỗ trợ không lớn và phân bổ bình quân cho tất cả các xã nên việc hoàn thành tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng khó đạt được. Đây là 1 trong những điểm nghẽn khiến nhiều xã ở Bắc Kạn khó hoàn thành mục tiêu xây dựng NTM.

 

Hồ chứa nước Nặm Cắt. Đây là công trình đa mục tiêu: Cung cấp nước sạch, nước tưới nông nghiệp, giảm lũ và tạo cảnh quan môi trường, phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn thành phố Bắc Kạn…Công trình được xây dựng trên sông Nặm Cắt, chia thành hai hợp phần, gồm: Hợp phần xây dựng hồ chứa do Bộ NN-PTNT chịu trách nhiệm làm chủ đầu tư, hợp phần giải phóng mặt bằng lòng hồ do UBND thành phố Bắc Kạn làm chủ đầu tư. Theo kế hoạch, công trình hồ chứa nước Nặm Cắt sẽ chặn dòng, tích nước vào đầu năm 2016, thế nhưng đến nay vẫn còn dang dở.

 

Cũng theo kế hoạch, sau khi hoàn thành diện tích ngập nước ở hồ sẽ chiếm trên 100ha. Hơn 150 hộ dân ở các thôn Nà Pài, Bản Pẻn và Bản Bung thuộc xã Dương Quang phải chuyển đến nơi ở mới. Nhưng đến thời điểm này, do thiếu vốn để di dân và thực hiện xây dựng khu tái định cư, cuộc sống sinh hoạt của người dân đang gặp khó khăn

Gia đình bà Phạm Thị Tựu ở thôn Bản Pẻn, mặc dù đã có đất ở khu tái định cư, cách hồ Nặm Cắt hơn 1 cây số. Thế nhưng bà vẫn chưa chuyển đi được, hàng ngày bà ở lại để buôn bán thêm, kiếm đồng ra đồng vào.

Bà Phạm Thị Tựu - Thôn Bản Pẻn, xã Dương Quang, Tp Bắc Kạn: "Tiền đền bù còn chưa cho dân hết, còn 1 phần chưa đền tí nào thì dân đi làm sao được, giờ chỉ còn cái chân đập nữa thôi là xong nhưng thiếu vốn".

 

Nhiều hộ dân sinh sống trong khu vực lòng hồ gồm các thôn Bản Bung, Nà Pài, Bản Pẻn, xã Dương Quang (TP. Bắc Kạn) đều nhận thức được những lợi ích đem lại từ công trình này. Nên họ đều hưởng ứng và sẵn sàng hợp tác để thực hiện dự án.

Tuy nhiên, đến nay, nhiều hộ gia đình vẫn chưa thể di dời đến nơi ở mới, hoạt động sản xuất chưa ổn định. Các hộ dân mong muốn khu tái định cư phải tốt hơn nơi ở cũ, hạ tầng cần được đầu tư hoàn chỉnh. Tuy nhiên trên thực tế, tại khu tái định cư cách nơi ở cũ chừng 1 cây số, người dân luôn cảm thấy lo lắng vì ta luy còn quá cao, dốc, rất dễ gây sạt lở nếu trời mưa lớn. cả thôn Bản Pẻn có 83 hộ, nay chỉ có khoảng 30 hộ đã ra nơi ở mới này.  Gần 5 năm thấp thỏm chờ đền bù, giải phóng mặt bằng, rồi gây dựng nơi ở mới, công việc mới, đến nay số tiền được bồi thường của nhiều hộ dân cũng đang vơi dần đi để trang trải cho chi phí sinh hoạt hằng ngày mà chưa được sử dụng để đầu tư chăn nuôi sản xuất, xây dựng nhà cửa. Cuộc sống vẫn trong cảnh bấp bênh, tạm bợ. Xã Dương Quang đặt mục tiêu cán đích Ntm vào năm 2019, nhưng khó khăn do thiếu vốn ở dự án hồ chứa nước Nặm Cắt đang trực tiếp ảnh hưởng đến mục tiêu này. Vốn là tỉnh miền núi, còn nhiều khó khăn, nên đa phần các công trình hạ tầng cơ sở đều phụ thuộc vào vốn đầu tư của Nhà nước, vốn đối ứng của địa phương là rất ít. Đây chính là 1 trong những nguyên nhân khiến không chỉ hồ chứa nước Nặm Cắt mà nhiều công trình khác cũng sẽ vấp vải tình trạng tương tự khi nguồn kinh phí chưa  phân bổ về hoặc sử dụng chưa hợp lý.

 

Ông Nguyễn Hoàng Hiệp - Phó Bí thư trường trực tỉnh ủy tỉnh  Bắc Kạn : "Tôi kiến nghị là sau tổng kết 10 năm TW nên có bảng biểu so sánh các mức đầu tư về NNNT cho từng vùng từng tỉnh là bao nhiêu những chính sách về Bắc Kạn mà bảo là tiền tự địa phương cân đối thì không bao giờ có".

 

Những  đổi thay đang và sẽ diễn ra sau 10 năm thực hiện nghị quyết tam nông đều hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống cư dân nông thôn ở tỉnh miền núi khó khăn như Bắc Kạn.

 Nhưng với những kết quả và tiến trình thực hiện đến thời điểm hiện tại, các tỉnh này đang phải nỗ lực hơn rất nhiều so với các địa phương khác để hoàn thành các mục tiêu chung.Để đạt được mục tiêu chung của nghị quyết tam nông, chính phủ rất cần tăng nguồn vốn hỗ trợ cho hợp phần xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm giảm thiểu sự mất cân đối giữa các vùng miền. Đồng thời có chính sách thúc đẩy việc phát triển sản xuất theo vùng - liên kết vùng. hỗ trợ sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, phát triển Hợp tác xã, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, để để vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ biên giới, giữ rừng, bảo vệ môi trường đầu nguồn hài hòa với phát triển kinh tế - xã hội.

 

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi