Thông tin về nhà nông vì nhà nông

Sao thần nông | "Biến" phế thải nông nghiệp thành công cụ kiếm tiền tỷ mỗi năm

Sao thần nông | Thu gom phế phụ phẩm nông nghiệp để xử lý nuôi giun. Từ giun và các sản phẩm của giun phục vụ cho chăn nuôi ngan, gà, lợn, trồng rau sạch. Biến những phế thải nông nghiệp trở nên hữu ích cho con đường làm giàu của mình và nhiều hộ nông dân khác. Mạnh dạn kết hợp logic khép kín giữa mô hình chăn nuôi với trồng trọt. Gia đình ông Nguyễn Mạnh Khang đã rất thành công và có thu nhập tới 4 tỉ đồng mỗi năm. Bí mật thành công của ông bắt đầu từ những sinh vật bé nhỏ này là gì?

Sao thần nông | Tỷ phú nông dân đất Tổ phát triển nông nghiệp sinh thái:

 Các phế phụ phẩm nông nghiệp như rơm, bèo, xác bã thực vật, rau củ quả hay các loại phân của động vật ăn cỏ. Tất cả đều được ông Khang thu gom về để ủ làm thức ăn cho giun. Thông qua biện pháp xử lý bằng các chủng vi sinh vật, toàn bộ chất hữu cơ sẽ hết mùi hôi thối và giảm thiểu các tạp chất hoá học độc hại cho giun. Đó là thành phần không thể thiếu trong trang trại chăn nuôi trồng trọt khép kín không chất thải của ông Nguyễn Mạnh Khang. Ông Nguyễn Mạnh Khang, trại giun Mai Hiền, thị trấn Hưng Hóa, Tam Nông, Phú Thọ. Tất cả ở đây đều là phế thải nông nghiệp, phân trâu phân bò phân gà thông qua công nghệ sinh học mình xử lý thành mùn và cho nó ăn.

Trại giun Mai Hiền ở thị trấn Hưng Hóa, Tam Nông, Phú Thọ là cơ sở trang trại thứ 3 của gia đình ông Khang. Những con giun nhỏ này đã giúp cho ông thu được tới 4 tỉ đồng mỗi năm từ các hoạt động canh tác nông nghiệp sạch, bền vững, thân thiện với môi trường.

Gần chục năm bôn ba tới nhiều quốc gia như: Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Thổ Nhĩ Kỳ... để tìm hướng đi cho mình, rồi ông Khang nhận được câu hỏi từ những người bạn trời Tây: Việt Nam là đất nước nông nghiệp sao ông không làm nông nghiệp? Từ gợi ý ấy, trong suốt thời gian ở nước ngoài, ông Khang luôn trăn trở một thực tế: Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, vất vả như nước mình, việc chịu khó nghiên cứu, suy nghĩ, tìm ra những mô hình sản xuất phù hợp nhằm phát triển sản xuất, làm giàu cho bản thân và gia đình, đồng thời giúp bà con cùng làm giàu là một việc làm rất thiết thực.

Thời gian sống và làm việc tại CHLB Đức, anh Khang nhận thấy giun quế (Perionyx Excavatus) được nuôi nhiều trên thế giới. Tại đây ông nhận thấy con giun có giá trị rất lớn trong việc phân huỷ phế thải hữu cơ, bảo vệ môi trường. Có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về các loài giun.

Nuôi giun quế cùng lúc giải quyết được 3 vấn đề là: xử lý chất thải, cung cấp thức ăn giàu chất đạm và phân vi sinh để bón cây... Đánh giá được nguồn lợi từ việc nuôi giun quế, ông Khang trở về nước bắt tay vào thử nghiệm ngay. Hai vợ chồng khởi động với số vốn gần 5 triệu đồng cho khoảng 10m2 sàn nuôi. Để bắt đầu, cả hai phải đi thu gom phân trâu, phân bò khắp trong vùng. Không ai tin rằng những người từng tu nghiệp nước ngoài về lại đi làm một công việc không mấy sạch sẽ như vậy.

Bỏ qua những dị nghị ấy, hai vợ chồng ông Khang miệt mài tìm cách nuôi được con giun. Khó khăn đầu tiên mà hai vợ chồng phải đối mặt là làm thế nào để nhân nuôi được giun quế trong điều kiện khí hậu tại Việt Nam. Không chỉ gặp khó về điều kiện khí hậu, đàn giun của vợ chồng ông Khang còn là đối tượng của những kẻ chuyên săn mồi: Chuột và cóc. Đã có lúc chúng tìm ăn gần hết số giun giống ít ỏi nhưng giàu dinh dưỡng. Song song với việc chống chọi lại chuột và cóc, đàn giun của vợ chồng ông Khang  còn phải chống chọi với dịch bệnh.

Tìm hiểu kỹ lại các tài liệu, ông Khang nhận ra loài giun quế rất nhạy cảm. Chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn,  và độ ẩm và độ pH. Nếu nhiệt độ môi trường nằm ngoài giới hạn từ 15-30oC, giun sẽ bỏ đi hoặc bị chết. Đồng thời, nguồn thức ăn chưa qua xử lý chế phẩm để nuôi giun cũng là nguyên nhân dẫn tới thiệt hại ở thời điểm đầu. Đúng 5 năm sau, tức năm 2003, ông Khang đã cải tạo được điều kiện sống thích nghi cho giun. Lúc này, lại có thêm 1 khó khăn nữa, đó là thức ăn cho giun. Hai vợ chồng ông đã cho giun ăn theo hình thức ăn nổi như một số hộ nuôi giun quế ở các tỉnh khác.

Điểm đột phá khi ông Khang tiếp cận được với công nghệ cho giun ăn chìm của nước Đức. Công nghệ này cho phép một tháng chỉ mất 1 lần cho ăn mà giun  vẫn đủ chất dinh dưỡng và sinh sản nhiều.

Thông thường ở Việt Nam thường cho ăn nổi. Thứ nhất lãng phí về mặt thời gian. Thứ 2 là giảm ngay năng suất mất gần 50 %. Vì 12 tiếng ban ngày và 12 tiếng ban đêm, mà con giun lại sợ ánh sáng nên rõ ràng mất đi 50 % rồi. Còn khi cho ăn chìm thì nó suốt ngày đều ăn, cuốn nhau và đẻ và như thế ta tăng năng suất được gấp đôi.

Khi đã nắm rõ tập tính sinh trưởng của loài giun, ông Khang tiến hành nuôi giun cả ở trong nhà, dưới tán cây và ngoài trời có giàn mát. Cách cho giun ăn cũng được thay đổi. Theo đó, Lúc này, giun giống được thả ở phía trên lớp phân. Giun thích ăn theo chiều ngang. Chúng sẽ đẩy phân thải và kén trứng lên trên. Đối với hệ thống mái che, ông Khang thiết kế kiểu mái tam giác. Mái làm bằng bạt nilong để che mưa, che nắng. Khung mái được làm rộng rãi để bao chùm kín bể. Chiều cao của mái che đến mặt đất là 1,55m. Ở hai đầu chỉ cần che bằng lưới đen để tạo độ thông thoáng. Phía trên mái che, thiết kế một giàn cây leo hoặc lưới đen che phủ hoặc hệ thống nước làm mát, chiều cao cách mặt đất khoảng 2-2,5m. Khoảng cách giữa các dãy bể tối thiểu là 0,9 m.

+ Đối với mỗi dãy bể nuôi:

- Tùy theo diện tích đất có thể xây bể dài tùy ý. Thông thường xây bể rộng 1,15 m, cao 25-28 cm (1 lượt gạch đỏ xây nằm + 2 lượt gạch đỏ xây nghiêng).

- Khoảng không gian bên trong bể nuôi rộng khoảng 1m.

- Cùng với giun thương phẩm thì đây là nguồn sinh khối hữu ích thu lại. Chúng vừa được dùng làm phân bón, giá thể trồng rau, vừa được dùng làm thức ăn cho ngan, gà, lợn… Trong 100m2 nhà nuôi giun này chứa đựng hàng tấn giun.

- Mùa hè mỗi mét vuông này sau 1 tháng có thể đạt 35kg -50kg sinh khối, tức là 50kg cám. Với mùa đông thì có thể nhiều hơn vì lượng thức ăn mình cho ăn nhiều hơn thì sinh khối lấy ra nhiều hơn.  Như vậy ta chủ động được nguồn cám này và giải quyết được vấn đề môi trường.

Sinh khối giun đào thải có lẫn kén trứng hay ấu trùng giun. Chúng được ông Khang bà Đà dùng phối trộn với cám ngô, cám gạo, rau xanh để cho lợn, gà, ngan vịt ăn. Vật nuôi sử dụng loại thức ăn này lớn nhanh, ít bệnh và chất lượng thịt tốt hơn.Bởi không dùng các loại cám công nghiệp có chứa hoócmôn tăng trưởng, một vấn nạn trong ngành chăn nuôi hiện nay.

Để nuôi gà thì mình tiết kiệm được 50%, chỉ dùng 50% giun sinh khối và 50 % chất xơ và cám ngô, cám gạo. Còn ngan vịt là những con phàm ăn, cần nhiều chất tanh hơn thì dùng sẽ tiết kiệm được tới 75% thức ăn…Nuôi được khép kín như thế thì nó giảm được tới 30-40% chi phí. Lượng bán gà thì được 6-7 nghìn gà và ngan đến 3.000 con

Cứ 3-4 ngày bà Đà thu hoạch rau 1 lần. Trong suốt cả 1 vụ rau trồng ngoài vườn hay trong những hộp xốp này, bà không cần bón phân hóa học và phun thuốc BVTV. Phân giun có đa dạng khoáng chất chỉ cần cung cấp 1 lần vào thời kỳ đầu mỗi vụ rau.

Bà Lộc Thị Đà - Khu 2, Xuân Lộc, Thanh Thủy, Phú Thọ:

Mình cũng có thời gian sống ở Hà Nội, thì đi mua rau xanh ở đó thứ nhất là đắt, thứ 2 là không biết có sạch hay không, xuất phát từ những điều đó, mình mới nghĩ trồng rau trong thùng xốp này cung cấp cho những gia đình ở Hà Nội, nơi mà có diện tích trồng hẹp họ sẽ trồng lên lan can

Gần 1 thập kỷ đầu tư vào con giun, hai vợ chồng ông Khang đã xây dựng được 1 trang trại rộng lớn đem lại khoản thu hàng tỷ đồng và tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân trong vùng và nhiều tỉnh thành lân cận. Những người từng cho rằng ông bà Khang kỳ quặc khi đã từng đi tu nghiệp ở nước ngoài về mà chỉ đi thu gom phân trâu, phân bò, rơm rạ giờ cũng đã hiểu câu chuyện của cả hai.

Trong suy nghĩ của vợ chồng ông Khang bà Đà, làm giàu là một chuyện, nhưng thay đổi nhận thức của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường mà vẫn làm ra được sản phẩm sạch mới là điều quan trọng. Những đoàn khách này, đến từ rất nhiều tỉnh thành trong cả nước. Họ đến không chỉ để tham quan, nghỉ dưỡng. Mà còn để học hỏi tư duy làm nông nghiệp độc đáo của lão nông này.

Bình luận

Bình luận chủ đề này!
1 - / bản ghi